Tại ngã năm Ô Chợ Dừa (Hà Nội), nếu không xây cầu vượt thì ùn tắc giao thông, còn xây lại lo... "hỗn" với tổ tiên.
Những ngày gần đây, trên các phương tiện thông tin đại chúng đang nổ ra cuộc tranh cãi việc nên hay không nên xây dựng cầu vượt qua khu vực Đàn Xã Tắc (tại ngã năm Ô Chợ Dừa, Hà Nội). Nếu không xây thì khu vực này mãi ở trong tình trạng ùn tắc giao thông, còn xây thì nhiều người lại lo ngại phá vỡ cảnh quan khu di tích.
Câu chuyện về bảo tồn hay phát triển lại nóng lên giữa một bên là các nhà nghiên cứu văn hóa muốn gìn giữ di sản, một bên là những nhà quản lý muốn giảm bớt tình trạng tắc nghẽn giao thông.
Dứt khoát phải làm
Nút giao thông ngã năm Ô Chợ Dừa, từ lâu đã trở thành một trong những điểm nóng ùn tắc giao thông ở Thủ đô. Chủ tịch Hà Nội Nguyễn Thế Thảo cũng cho rằng, xây cầu vượt tại đây là cần thiết, nhằm đáp ứng nhu cầu bức thiết về giao thông và cải tạo, chỉnh trang đô thị hiện nay.
Ngày 25/4, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội Nguyễn Thế Thảo đã ra văn bản kết luận chính thức đồng ý cho phép xây cầu vượt qua Đàn Xã Tắc.
Chủ tịch yêu cầu tiếp tục tu chỉnh, hoàn thiện và lựa chọn phương án tối ưu nhất, trình UBND thành phố phê duyệt trong tháng 5 năm 2013; công bố công khai quy hoạch trước khi triển khai xây dựng theo quy định.
Ông Bùi Danh Liên (Chủ tịch Hiệp hội Vận tải Hà Nội) còn gửi văn bản “thúc” Hà Nội khởi công xây dựng cây cầu vượt tại đây. Ông Liên nhấn mạnh: Cầu vượt ngã năm Ô Chợ Dừa dứt khoát phải làm. Khi hoàn thành, công trình sẽ giúp thông thoáng nút giao vốn luôn ùn tắc này.
 - 1
Nút giao Xã Đàn - Nguyễn Lương Bằng (qua Đàn Xã Tắc)
Ông Nguyễn Hoàng Long – Phó Ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội có quan điểm: Nếu có phải hy sinh một chút gì đó cho sự phát triển của con cháu thì vẫn phải chấp nhận. Chúng ta không bắn súng lục vào quá khứ, nhưng rõ ràng chúng ta phải thiên về một lựa chọn có lợi hơn.
Trong khi đó, ông Phan Đình Tân, Chánh văn phòng của Bộ VHTT&DL cho biết, Bộ rất tuân thủ Luật Di sản văn hóa. Dự án cầu vượt đó không vi phạm chỉ giới khu vực lõi I (tức vùng lõi) của di tích. Còn khu vực vành đai II, III là khu vực có khả năng được điều chỉnh. Hơn nữa, xây cầu không vì động cơ của cá nhân ai, mà nó phục vụ lợi ích của quốc gia, lợi ích của Thủ đô thì cũng cần phải cân nhắc phương án hài hòa.
Đi lên đầu tổ tiên
Trái với những nhà quản lý, hầu hết các nhà nghiên cứu văn hóa khi được hỏi, đều không muốn xây cầu bởi sẽ ảnh hưởng đến di tích Đàn Xã Tắc.
Nhà nghiên cứu Văn hóa, GS.TS Trần Lâm Biền bày tỏ: “Tốt nhất là nên né đi, không nên vượt lên đầu tổ tiên. Đàn Xã Tắc là đàn gắn với Tổ tiên, gắn với trời đất. Giờ chúng ta dùng cây cầu cao hơn cả trời đất thì nước này lụi bại à?”.
GS Sử học Lê Văn Lan phân tích, cái tên Xã Đàn bắt nguồn từ việc tại đây có đàn Xã Tắc từ đời Vua Lý Thái Tông (năm 1048), để tế thần Đất và thần Nông - hai vị thần được coi là quan trọng nhất của xã hội nông nghiệp.
Bốn mùa, nhà vua đều thân chinh chủ trì tế lễ để cầu được mùa. Từ xa xưa, không chỉ đối với người dân, mà ngay cả các vương triều, kinh đô Việt Nam và Trung Hoa, đàn Xã Tắc có vị trí vô cùng thiêng liêng. Giữ gìn, bảo tồn Đàn Xã Tắc cũng chính là giữ gìn Sơn hà Xã Tắc.
Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam đã có văn bản gửi tới Thủ tướng Chính phủ. Bản kiến nghị khẳng định, dưới lớp di tích Đàn Xã Tắc, còn có những di tích đầu tiên của con người trên vùng đất trung tâm Hà Nội cách ngày nay khoảng 3.500 năm và di tích cư trú hồi đầu công nguyên. Từ đó, Hội Sử học cho rằng, Đàn Xã Tắc là đối tượng được điều chỉnh của Luật Di sản cần được bảo vệ và phát huy những giá trị của di sản quốc gia.
GS.TS Nguyễn Quang Ngọc, Chủ tịch Hội Sử học Hà Nội, nguyên Viện trưởng Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển khuyên rằng: Nên dừng dự án lại, các nhà quản lý cần tìm một giải pháp khôn ngoan hơn.
 - 2
Phương án xây dựng cầu vượt qua Đàn Xã Tắc gặp phải nhiều ý kiến trái chiều
Phát ngôn chấn động giới nghiên cứu
Trong lúc nhiều nhà sử học, nhà nghiên cứu cho rằng cần phải bảo tồn di tích này, ông Nguyễn Văn Hảo – nguyên Phó Viện trưởng Viện Khảo Cổ học bất ngờ khẳng định: “Hà Nội chưa bao giờ tìm ra Đàn Xã Tắc”.
Để chứng minh điều này, ông Hảo nhắc lại thời điểm năm 2007, khi thi công đường Xã Đàn (Kim Liên mới), các cơ quan chức năng phát hiện có di tích. Sau đó, công trình giao thông phải tạm dừng để khoanh vùng mở hố khai quật, tìm vết tích của Đàn Xã Tắc. Nhưng dấu vết kiến trúc trong hố khai quật ấy không có một đặc điểm nào của Đàn Xã Tắc.
Trong trường hợp độ sâu của các lớp đất không có ý nghĩa trong việc xác định niên đại, người ta có thể căn cứ vào các vật liệu tìm thấy được ở đó. Nhưng không có chứng tích kiến trúc nào thể hiện đặc điểm của Đàn Xã Tắc.
Theo ông Hảo, đây chỉ là dấu vết kiến trúc nào đó có niên đại thời Lý, không thể nói là Đàn Xã Tắc.
“Nhà khoa học khi nói phải có cơ sở, không phải rằng cứ khoác lên mình chiếc áo "khoa học" rồi nói gì cũng bắt người khác phải nghe. Đã không đưa ra cơ sở khẳng định ở Ô Chợ Dừa có Đàn Xã Tắc thì không thể “đè” ra nói đây là Đàn Xã Tắc được”, ông Hảo nói.
Bên dưới tấm bia đá ở Ô Chợ Dừa không phải là Đàn Xã Tắc, có nó chỉ có ý nghĩa “nhắc nhở” ở phía Tây Nam Thủ đô có Đàn Xã Tắc.
Phát biểu này của ông Hảo làm choáng váng giới nghiên cứu sử và văn hóa dân gian. Nếu ông Hảo đúng, một loạt các nhà nghiên cứu khác đã sai khi khẳng định di tích này là Đàn Xã Tắc. Các cơ quan quản lý khác, từ Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch cho tới UBND TP Hà Nội cũng nhầm lẫn.
Ngày 26/4 tại cuộc họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 4/2013, Bộ trưởng, Chủ nhiệm VP Chính phủ Vũ Đức Đam đã nói về phương án xây cầu vượt nút giao Ô Chợ Dừa.
Ông Đam nói: “Có ý kiến cho rằng, việc xây dựng cầu vượt qua Đàn Xã Tắc là vi phạm Luật Di sản. Quan điểm của Chính phủ là không chỉ việc này mà bất kỳ việc gì đều không được vi phạm luật. Hà Nội quyết định việc đó và hôm nay có ý kiến như vậy, Hà Nội với trách nhiệm của mình sẽ trả lời có vi phạm hay không. Nếu báo chí và công luận cho rằng có vi phạm thì các cơ quan chức năng sẽ có ý kiến chính thức”.
Dường như, tranh cãi quanh câu chuyện xây dựng cầu vượt qua Đàn Xã Tắc chưa ngã ngũ và ngày càng rối hơn. Chúng tôi sẽ tiếp tục thông tin đến quý độc giả những diễn biến mới nhất quanh cuộc tranh cãi này.
Dương Tùng(Khampha.net)
Sau khi hạ thủy và hoàn thiết các phần kiến trúc, lắp đặt những thiết bị còn lại, chiếc tàu ngầm tấn công Kilo 636 thứ hai của Hải quân Việt Nam mang tên TP Hồ Chí Minh đã bắt đầu quá trình chạy thử nghiệm trên biển.
Nếu kế hoạch không có gì thay đổi, tàu ngầm TP. Hồ Chí Minh sẽ được Nga chuyển giao cho Việt Nam vào cuối tháng 10/2013.
Nếu kế hoạch không có gì thay đổi, tàu ngầm TP. Hồ Chí Minh sẽ được Nga chuyển giao cho Việt Nam vào cuối tháng 10/2013.



Soha dẫn tin từ hãng Interfax của Nga cho biết,  tàu ngầm TP Hồ Chí Minh đã bắt đầu hành trình ra biển để thử nghiệm từ ngày 28/4 vừa qua. Con tàu được hạ thủy vào ngày 28/12/2012 và tiếp tục hoàn thiện phần kiến trúc thượng tầng suốt 4 tháng qua. Tàu ngầm TP. Hồ Chí Minh sẽ về Việt Nam vào cuối tháng 10 năm nay.

Trước đó, các blogger Nga đã đăng tải một số hình ảnh về tàu ngầm HQ-183 TP. Hồ Chí Minh. trong đó chụp cận cảnh từng vị trí nổi của con tàu trong quá trình hoàn thiện ở âu tàu nhà máy Admiralty. Đặc biệt còn có những hình ảnh "nóng"  khi vũ khí đang được chuẩn bị đưa vào các ống phóng ngư lôi ở mũi tàu.

Theo kế hoạch, tàu ngầm TP Hồ Chí Minh sẽ trải qua các bài thử nghiệm tương tự như những thử thách mà tàu ngầm Hà Nội đã phải trải qua. Nếu kế hoạch không có gì thay đổi, tàu ngầm TP Hồ Chí Minh sẽ được Nga chuyển giao cho Việt Nam vào cuối tháng 10/2013.

Trong khi đó, ở gần cảng Kalingrad trên biển Baltic, chiếc tàu ngầm Kilo đầu tiên được đóng cho Hải quân Việt Nam, HQ-182 Hà Nội đang tiếp tục thực hiện các bài thử nghiệm quan trọng, trước khi bàn giao cho khách hàng vào cuối tháng 8 tới.

Hãng Interfax-AVN dẫn nguồn tin thân cận trong ngành đóng tàu Nga tại triển lãm quốc tế kỹ thuật Hàng hải và Hàng không LIMA 2013 - Malaysia, cho biết: Cho đến cuối năm 2013 có kế hoạch hạ thủy chiếc tàu thứ ba. Ba tàu kế tiếp của lô hàng đang trong quá trình lắp ráp.

Còn Đài tiếng nói nước Nga, tại thành phố Svetlui gần Kaliningrad đã bắt đầu công tác đào tạo thủy thủ đoàn Việt Nam cho chiếc đầu tiên trong số 6 tàu ngầm Kilo đang được xây dựng tại Nhà máy đóng tàu Admiralty theo đơn đặt hàng của Việt Nam.

Tàu ngầm kilo 636 dài 73,8 mét, rộng 9,9 mét, có lượng choán nước 2.350 m3, tốc độ 17-20 hải lý và lặn sâu 300 mét. Theo hợp đồng, phía Nga sẽ huấn luyện các thủy thủ Việt Nam điều khiển tàu ngầm kilo 636, đồng thời cung cấp thiết bị và phương tiện kỹ thuật cho tàu.
Theo Phunutoday

Cổ Súy và Cổ Xúy là hai từ rất dễ bị nhầm lẫn khi dùng. Nhiều  người không phân biệt được dùng từ nào đúng. Có người còn cho rằng cả hai từ đều đúng và có nghĩa tương tự nhau, sự thật không phải như vậy.
"Hàng ngày, máy bay RF5 có nhiệm vụ bay và chụp ảnh các toạ độ từ nhỏ nhất ở Hoàng Sa, xem có thay đổi gì, tàu chiến Trung Quốc di chuyển ra sao, bố trí các cụm phòng thủ thế nào... đưa về chiếu ra cho tất cả phi công theo dõi. Tụi tôi đếm từng tàu một, thậm chí đếm được cả số ghi trên tàu, chia bản đồ ra làm bốn, mỗi góc tư giao cho một phi đoàn, phi đoàn thứ năm bay bảo vệ trên không. Họ có 43 tàu tất cả và quyết tâm của tụi tôi là đánh chìm tất cả 43 tàu đó trong vài giờ." - Đại tá, anh hùng phi công Nguyễn Thành Trung.

35 năm hoạt động, trên vai áo ông từng đeo quân hàm không quân hai bên là đối thủ của nhau. 22.000 giờ bay với nhiều loại phi cơ chiến đấu và dân dụng hiện đại nhất từ Đông sang Tây, từ Á sang Âu. Những nếm trải cuộc đời, dường như Nguyễn Thành Trung chẳng thiếu thứ nào. Người ta thường nói vinh quang đi cùng cay đắng. Còn ông, sống chết, tù tội chẳng màng, nhưng những giây phút cô đơn trong cuộc sống hoà bình, ngay trong lòng đồng đội thì thật dài và khó quên. Tháng tư đến rồi lại đi cùng ký ức..

Chặng đường lịch sử dài 38 năm có quá nhiều biến cố, sự kiện ném bom dinh Độc Lập ngày 8.4.1975 đối với ông có ý nghĩa gì? Bây giờ nghĩ về giây phút ấy ông cảm thấy thế nào?
Đối với cá nhân tôi, ngày 8.4.1975 là một bước ngoặt lịch sử quan trọng nhất trong cuộc đời. Lái chiếc máy bay F-5E ném hai trái bom xuống dinh Độc Lập, sau đó quay lại dùng súng phóng lựu vào kho xăng Nhà Bè, là hành động mà tôi ấp ủ trong một quá trình dài, ngay từ thời trai trẻ.
Đối với tôi, chấm dứt chiến tranh để người Việt Nam không còn đổ máu là một việc lớn phải làm. Đó không phải là cảm hứng nhất thời, hay bất chợt, liều lĩnh. Sự nỗ lực cá nhân suốt bao nhiêu năm ở khoa toán - lý đại học Khoa học Sài Gòn, trong vỏ bọc sĩ quan không lực Việt Nam Cộng hoà, hay tại các trung tâm học lái máy bay chiến đấu ở Hoa Kỳ từ năm 1969 - 1972 tôi vẫn chuyên chú cho hành động ấy. Tôi âm thầm luyện tập hạ cánh ở cự ly gần 1.000 mét (trong khi máy bay F-5E phải đáp trên đường băng dài tối thiểu 3.000 mét) đến độ hư hai máy bay và phải chịu kỷ luật hạ lương, giáng chức, suýt nữa là bị lộ tại sân bay Biên Hoà. Nhờ vậy mà ngày 8.4 năm ấy tôi đã hành động chính xác, đáp xuống an toàn tại sân bay dã chiến Phước Long vừa giải phóng. Có thể gọi đó là sự chính xác của lý trí và khoa học. Bước ngoặt 180 độ đó cho tôi được chính danh là tôi - Nguyễn Thành Trung như ngày hôm nay.
Nhưng báo chí cả hai phía lúc đó chạy những dòng tít lớn gọi ông là "phi công phản chiến"?
Đúng vậy, cấp trên nói với tôi là cần tuyên truyền như vậy để kêu gọi những người trong lực lượng không quân Sài Gòn tiếp tục phản chiến. Tôi nghĩ nói sao cũng được, vấn đề là tôi có làm được nhiệm vụ không? Có còn sống để trở về không? Từ năm 1969, tôi đã là đảng viên.
Thời khắc đó ông có nghĩ đến sự an toàn của vợ và hai con còn quá nhỏ đang sống ở thành phố Biên Hoà? Có khi nào ông cảm thấy khổ tâm hay hối hận về hành động của mình mang lại nỗi vất vả cho vợ con?
Trước khi ném bom dinh Độc Lập ngày 8.4.1975, lãnh đạo đề nghị đưa vợ con tôi ra vùng giải phóng để tôi yên tâm làm nhiệm vụ. Nhưng lúc đó, tôi bị nghi kỵ nhiều, nguy cơ lộ rất cao nên chuyện đó là không thể. An ninh quân đội theo sát gia đình tôi từng giờ, nếu vợ con tôi vắng nhà không rõ lý do thì tôi sẽ bị bắt ngay tức khắc. Cũng có thể trên đường ra vùng giải phóng, vợ con tôi cũng sẽ bị bắt, tình thế đó sẽ nghiêm trọng hơn. Rất lo lắng cho tính mạng vợ con, nhưng việc mà tôi đã tính trước mười năm đến thời điểm này là không thể dừng. Mặt khác, thời gian sống trong đội ngũ không lực Sài Gòn cho tôi một niềm tin rằng vợ tôi, một người phụ nữ không liên quan gì đến công việc của tôi, con tôi còn quá nhỏ (đứa lớn mới năm tuổi, đứa nhỏ chưa tròn năm) sẽ không bị đối xử một cách tàn nhẫn. Thực tế diễn ra đúng như tôi dự đoán.
Ngày 2.5.1975, tôi lái máy bay từ Phan Rang về sân bay Biên Hoà. Vợ con tôi cũng vừa được giải thoát khỏi số 4 Nguyễn Bỉnh Khiêm, chúng tôi gặp lại nhau trong ngôi nhà nhỏ của mình.
Sau ngày thống nhất đất nước, đối diện với bao khó khăn của cuộc sống thường ngày do nền kinh tế bao cấp áp đặt, những lúc ngột ngạt, mệt mỏi ông nghĩ gì?
Tôi là người được học hành tử tế trong những ngôi trường khá lý tưởng của Sài Gòn và tiếp cận nhiều nguồn tài liệu khác nhau, tôi biết rõ những sai lầm trong chính sách kinh tế của miền Bắc nước ta. Bi kịch cải cách ruộng đất còn nguyên đó, công nghiệp chẳng có gì. Khu gang thép Thái Nguyên còn thô sơ lắm, Dệt Nam Định, Sứ Hải Dương chỉ sản xuất được những mặt hàng tiêu dùng cấp thấp, đặc biệt là hạn chế về trình độ của cán bộ quản lý. Sự khác biệt về ý thức hệ giữa hai miền, nhất là do đặc thù của nền kinh tế tự cung tự cấp, cho tôi nhìn rõ sau khi Việt Nam thống nhất, kinh tế sẽ cực kỳ khó khăn ít nhất là mười năm. Tôi chuẩn bị tinh thần đối phó với những khó khăn chung, và cả những khó khăn về mặt cá nhân, nghi ngờ, hay có những phân biệt đối xử này nọ... Tôi chấp nhận đối diện thực tế đó và nghĩ điều quan trọng nhất mình có được là dân tộc Việt được sống trong hoà bình.
Đại tá-Anh hùng Nguyễn Thành Trung

Thực tế mười năm khó khăn như ông nói cũng đã được tháo gỡ bởi bước chuyển đổi mới. Nhưng tới bây giờ, người ta lại tiếp tục đưa ra dự báo mình lại đang hụt hơi, tụt đà. Ông nghĩ thế nào?
Thực ra đổi mới một phần vì khi mình tiếp xúc với thế giới mới ngộ ra một điều là đang bị co trong vòng luẩn quẩn, không tìm ra lối thoát trong khi thế giới ào ào tiến lên. Từ ảnh hưởng đó đồng thời tác động mạnh của cuộc khủng hoảng Đông Âu tới mình và cả Trung Quốc, bắt buộc phải một phần nào đó chấp nhận cách làm ăn mới, có sự tư hữu. Tư hữu của thế giới mình không chấp nhận, nhưng con người có quyền tư hữu từ hàng ngàn năm về trước. Mình luẩn quẩn trong khi thế giới đang tiến lên bởi mình không chấp nhận dân làm giàu. Cho nên bắt buộc mình phải công nhận, phải chấp nhận tư hữu ở một mức độ nào đó để dân thở được. Khi đó dân bắt đầu làm ăn được. Cải cách vì vậy là do dân. Cuộc cách mạng này do dân và do lịch sử thế giới tác động. Nếu muốn không tụt đà thì phải nương vào sức dân, dân giàu thì nước mới mạnh.
Sau ngày 30.4, ông có thường gặp lại đồng nghiệp trong những phi đội cũ? Tình cảnh và và tâm thế lúc gặp lại như thế nào?
Bẵng mười năm sau giải phóng, tôi không gặp lại ai trong nhóm những đồng nghiệp cũ. Sau đổi mới, từ năm 1986 trở về sau này, các đồng nghiệp cũ của tôi lần lượt về mới có dịp gặp lại. Lớp tôi có 23 đứa, chết hết bốn, 18 đứa qua Mỹ, chỉ còn mình tôi ở lại. Những lần gặp cũng dễ nói chuyện vì họ đã hiểu rõ mọi chuyện. Tôi cũng hoàn toàn hiểu và tôn trọng họ. Đa phần những đồng nghiệp của tôi đều ở Mỹ. Lúc mới về, tâm lý chung mấy người bạn đều ngại gặp tôi. Tôi thì chả ngại gì, tôi vẫn xem họ là những người bạn. Khi gặp cũng tâm sự nhiều, cũng so sánh chuyện cũ, chuyện bây giờ. Ai cũng công nhận việc tôi làm là góp phần chấm dứt cuộc chiến tranh, chấm dứt cảnh chết chóc, đổ máu. Nhưng điều họ chia sẻ là họ không dám có những quyết định như vậy.
Những người bạn lựa chọn khác tôi lúc qua Mỹ còn trẻ nên ai hội nhập được, sống khá giả. Năm nào mấy ổng cũng ngồi lại với nhau, chuyện nói nhiều nhất là về tôi. Nhiều anh em bảo quyết định của tôi hơi dại dột, vì sau giải phóng sống kiểu gì cũng bị nghi ngờ, đói khổ... Tôi trả lời đó không phải là quyết định bậy bởi tôi ý thức được việc cần làm. Cái gì cũng vậy, làm thì phải trả giá nhưng tôi chấp nhận việc đó. Nhưng qua những thăng trầm của đất nước, nhiều kinh nghiệm cuộc đời đúc kết lại, tôi thấy việc tôi làm càng ngày càng đúng. Còn hỏi tôi có lăn tăn hay không, tôi trả lời thật là thánh mới không lăn tăn, nhưng những cái lớn nhất át những lăn tăn nhỏ đi, nên hàng đêm tôi ngủ yên vì biết tôi đang ngủ trên đất nước mình, chứ qua Mỹ sướng thật nhưng ngủ không yên bởi lúc nào cũng đau đáu một quê hương chỉ còn trong ký ức. Nhiều đứa bạn nói thẳng: "Đến bây giờ mới nghe được một người nói điều đó là mày". Chúng tôi gặp nhau trao đổi thẳng thắn, không giấu giếm điều gì, nói đến tận cùng suy nghĩ của mỗi người.
Với ông, quê hương là thế nào?
Tôi có tới hai quê hương. Một Bến Tre nơi tôi sinh ra, nơi đó là dòng tộc máu mủ, nơi đó cha mẹ tôi đã nằm xuống cho chúng tôi trưởng thành. Vốn là xứ học, địa linh nhân kiệt, nhiều tên tuổi trí thức lớn Việt Nam xuất phát từ đây. Những Phan Thanh Giản, Võ Trường Toản, Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Đình Chiểu... là những tấm gương của nhân - nghĩa - lễ - trí - tín mà tôi từng học được.
Còn một quê hương khác, Sài Gòn đối với tôi là máu thịt, là tình yêu, là gì đó không thể lay chuyển được dù cho năm tháng trôi qua, nhìn góc phố thay đổi, cũng nhiều lúc buồn vui hờn giận, tiếc nuối...
Ông đã bước ra khỏi vỏ bọc của một điệp viên, lái máy bay trên bầu trời hoà bình, và làm công việc đào tạo, hết lòng với một thế hệ phi công trẻ Việt Nam. Điều đọng lại trong ông sau thời gian dài gắn bó với công việc đào tạo, huấn luyện ấy là gì?
Giã từ cuộc chiến, tôi thấy mình làm khá nhiều việc mà những việc đó chắc không phải ai cũng làm được. Hồi còn sống, anh Hai Trung (tướng tình báo Phạm Xuân Ẩn) nói nửa đùa nửa thật: "Việc ông ném bom dinh Độc Lập, Nhà nước phong ông anh hùng thì tôi không nói làm gì, còn công việc ông làm sau này nếu được, tôi phong ông hai lần anh hùng nữa". Anh Hai Trung hiểu về công việc đặc thù của tôi. Khi giải phóng, cả một bề thế không quân chế độ cũ bỏ lại, tôi là người làm sống lại phi đội A37 sau này tham gia đánh Tân Sơn Nhất vào ngày 28.4 trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. F5 là máy bay chiến đấu hiện đại nhất của Sài Gòn lúc bấy giờ mà Mỹ bỏ lại mấy phi đoàn nhưng không có người bay. Giá trị vậy nhưng bỏ lại quá lâu bị hư hại nhiều, có chiếc bị bắn phá thủng lỗ chỗ. Nhiều chiếc còn bị bộ đội tiếp quản tháo đi những tiện nghi nội thất hay linh kiện quan trọng... Sau khi thành lập bộ phận tiếp quản, tôi nhận nhiệm vụ làm sống lại những chiếc máy bay này. Khi sửa xong, tôi là người bay thử. Phi công bay thử của người ta điều kiện bảo hiểm ngặt nghèo lắm, còn tôi thì như con thiêu thân. Gần 50 lần bay như thế, tôi luôn sẵn sàng tình huống nhảy dù khẩn cấp bởi máy bay có thể hư bất cứ lúc nào. Mỗi lần bay, nhiên liệu chỉ cung cấp đủ phân nửa cơ số. Vốn là người nhạy cảm trong cuộc sống, con ruồi bay qua tôi phân biệt ruồi đực hay ruồi cái, huống chi chuyện nhiên liệu chỉ đủ bay một vòng trong bán kính hẹp. Điều lăn tăn mà tôi kể trên là như vậy đó.
Tháng 8.1975 sau khi hồi phục xong rồi, tôi huấn luyện cả một phi đội, bay thành thục F5 để thành lập trung đoàn không quân 935, sau này trở thành trung đoàn anh hùng.
Đã quá cái tuổi lục thập nhi nhĩ thuận, còn điều gì ông thấy hối tiếc, hoặc món nợ nào ông chưa trả được?
Đến giờ này tôi vẫn ân hận, tiếc là không được chết vì Hoàng Sa. Ngày 18.1.1974, hải quân Trung Quốc đổ bộ lên chiếm đảo Hoàng Sa, phía Việt Nam Cộng hoà khi đó có một đại đội địa phương quân chốt trên đảo Phú Lâm. Hai bên đánh nhau, cùng có thương vong về con người nhưng quân số Trung Quốc đông quá, 51 lính địa phương quân của ta bị bắt đưa về Trung Quốc. Việt Nam Cộng hoà lên tiếng phản đối việc Trung Quốc dùng sức mạnh quân sự để chiếm đảo của Việt Nam một cách phi pháp. Đây là sự kiện lớn, dư luận thế giới cũng phản đối việc đó.
Lúc này hải quân của Việt Nam Cộng hoà không thể đổ bộ chiếm lại đảo được. Ngày 19.1.1974, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu điều năm phi đoàn F5, bốn ở sân bay Biên Hoà, một ở sân bay Đà Nẵng, mỗi phi đoàn có 24 máy bay và 120 phi công ra Đà Nẵng chuẩn bị đánh lấy lại Hoàng Sa. Mọi người rất phấn khởi, tụi tôi đi ra với tư thế là đi lấy lại một phần lãnh thổ đất nước. Sĩ quan cấp tá ở các phi đoàn 520 - Nguyễn Văn Dũng, 536 - Đàm Thượng Vũ, 540 - Nguyễn Văn Thanh, 544 - Đặng Văn Quang, 538 - Nguyễn Văn Giàu đều đã lên kế hoạch tác chiến kỹ lưỡng.
150 phi công thuộc sáu phi đoàn F5 của không lực Việt Nam Cộng hoà khi đó đều ký tên chung vào một lá đơn tình nguyện "Xin được chết vì Hoàng Sa".
Hàng ngày, máy bay RF5 có nhiệm vụ bay và chụp ảnh các toạ độ từ nhỏ nhất ở Hoàng Sa, xem có thay đổi gì, tàu chiến Trung Quốc di chuyển ra sao, bố trí các cụm phòng thủ thế nào... đưa về chiếu ra cho tất cả phi công theo dõi. Tụi tôi đếm từng tàu một, thậm chí đếm được cả số ghi trên tàu, chia bản đồ ra làm bốn, mỗi góc tư giao cho một phi đoàn, phi đoàn thứ năm bay bảo vệ trên không. Họ có 43 tàu tất cả và quyết tâm của tụi tôi là đánh chìm tất cả 43 tàu đó trong vài giờ.
Về không quân, vào thời điểm đó chúng tôi có nhiều lợi thế hơn Trung Quốc. Bay từ Đà Nẵng ra Hoàng Sa bằng cự ly từ đảo Hải Nam ra. Ưu thế của phi đội tụi tôi là máy bay bay ra, đánh nửa tiếng vẫn thừa dầu bay về còn Trung Quốc chỉ có Mig 21, bay ra đến Hoàng Sa thì không đủ dầu bay về. Khí thế phi công lúc đó hừng hực, mấy anh chỉ huy trưởng từ đại tá trở xuống đòi đi đánh trước. Tất cả háo hức chờ đến giờ G là xuất kích. Nhưng giờ G ấy đã không đến. Hạm đội 7 của Mỹ trên biển không cứu các hạm đội của đồng minh Việt Nam Cộng hoà bị bắn chìm và bị thương trên đảo. Dường như vì lợi ích của mình, các quốc gia lớn có quyền mặc cả và thương lượng bất chấp sự toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia khác.
Một mảnh đất dù nhỏ cũng là tổ quốc mình, cha ông ta đã đắp xây nên bờ cõi, là con dân của đất nước ai cũng có nghĩa vụ thiêng liêng gìn giữ lấy. Tụi tôi háo hức sẵn sàng tất cả nhưng cuối cùng không được chết cho Hoàng Sa. Tới bây giờ tôi vẫn ân hận. Sau này bạn bè tôi gặp lại nhau cũng cùng một tâm trạng: đáng lẽ tụi mình chết cho Hoàng Sa thì vinh dự hơn!
Hiện nay ông có bằng lòng với cuộc sống của mình?
Thời nào tôi cũng bằng lòng với hiện tại. Thời khó khăn nhất cũng như khi đất nước đổi mới đến nay, tôi bằng lòng với những cái mình hiện có. Đó là hạnh phúc tự tạo. Nếu để làm giàu tôi sẽ đi đường khác và tôi biết cách làm giàu, nhưng tôi đã không lựa chọn như vậy. Tôi vẫn nghĩ "tri túc tiện túc hà thời túc", mình biết đủ thì lúc nào cũng đủ, còn ham muốn, lúc nào cũng thấy thiếu thì không bao giờ đủ cả. Tôi bằng lòng với cuộc sống con cái học hành đàng hoàng, lễ phép với cha mẹ. Hiện tôi vẫn chưa nhàn được, tôi vẫn đi làm thuê, nhưng làm để vui, chứ làm để buồn thì tôi không bao giờ làm.
Cảm ơn về cuộc trò chuyện chân tình và thẳng thắn của ông.
Theo Trung Dũng - Minh Nguyễn/ SGTT
* Tiêu đề do Kenhvietnam đặt

Xưa nay vẫn nghe nhiều người nói lịch sử là môn học vừa khô khan, vừa nhàm chán. Hiện nay, một bộ phận giới trẻ có thể nói là “mù” lịch sử Việt Nam. Trong phạm vi bài viết, tác giả không muốn mạn đàm quá sâu vào vấn đề này. Chỉ xin nói một điều nho nhỏ. Các cụ ta xưa đã có câu: “Biết thì thưa thốt, không biết dựa cột mà nghe”, càng ngẫm thấy câu này càng đúng. Nói ra khi mà bản thân không hiểu gì chẳng khác nào vạch áo cho người xem lưng, để lộ cho người khác thấy mình dốt nát. Ấy vậy mà có những kẻ “điếc không sợ súng”, tự vỗ ngực ta đây phê phán, phát biểu lung tung. Như bài viết của Huỳnh Minh Tú trên blog Diễn đàn Công Dân, “thanh niên tiểu bối” Tú đã nói “Nay năm Quý Tỵ, nghĩa là sau 38 năm kể từ năm 1975, khi hai miền Nam-Bắc cuối cùng kết thành một nước Việt... Chỉ có điều, dân Việt anh em đã mất đôi bên Quốc-Cộng hơn ba triệu sinh linh của cùng dòng máu Lạc Hồng. Đó là một sự nhục nhã !!!… Ước chi dân tộc Việt ta như một nước Đức - cũng xấp xỉ dân số và diện tích quốc gia như nước ta, dù sau hai lần bại trận trong hai thế chiến, biết dùng dân trí, ẩn nhẫn chấp nhận thất bại, củng cố địa vị rồi kết toàn đất nước “không đổ một giọt máu” làm cả thế giới phải thán phục, và vươn lớn hàng đầu như hiện tại hôm nay. Rõ ràng thanh niên này chẳng hiểu gì về cái gọi là hoàn cảnh lịch sử. Nước Đức là thế nào, tại sao họ lại bị chia cắt thành hai quốc gia riêng biệt là Đông Đức và Tây Đức, vì sao họ lại thống nhất thành một nước? Chưa kể đến định hướng phát triển của Đức hoàn toàn khác với Việt Nam, Đức sau thống nhất đi theo TBCN, còn Việt Nam chúng ta kiên định theo con đường XHCN.
          Thanh niên Tú cũng lại viết “Chỉ nói ở đây về lòng yêu nước, về tự hào dân tộc mà đảng Cộng Sản vẫn thường xuyên rao giảng với toàn dân…, thì sau 38 năm cầm quyền kể từ ngày 30.04.1975, ngày Nam-Bắc Việt Nam thành một nước. Đảng Cộng Sản đã làm gì để toàn vẹn lãnh thổ ? Nước Việt oai hùng dòng dõi Tiên Rồng đã bao lần đánh bại quân xâm luợc… Thế mà Ải Nam Quan chỉ còn trong kí ức, Thác Bản Giốc cũng phần lớn nằm trong tay ngoại bang. Hoàng Sa – Trường Sa sẽ chẳng mấy chốc trở thành quá khứ…”. Người Việt Nam ta thường nhắc nhau “con không chê cha mẹ khó, chó không chê chủ nghèo”. Có những việc không phải ta cứ muốn là phải đạt được ngay lập tức, đôi khi cần phải trải qua một quá trình lâu dài. Hơn nữa, ngày nay vị thế của Việt Nam không còn như trước. Chúng ta đã gia nhập WTO, hội nhập quốc tế sâu rộng. Những vấn đề liên quan đến biên giới, biển đảo không thể ngày một ngày hai giải quyết ngay, bên cạnh việc đấu tranh của nước ta, còn có sự can thiệp của Liên hiệp quốc cũng như các nước có liên quan như Nhật Bản, Philippine,… Lộng ngôn và phát biểu hùng hồn như Tú đây thì quả là đáng trách, đáng lên án. Trong thời điểm hiện nay, phát huy truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc, đoàn kết toàn dân, cùng thống nhất ý chí và hành động là vô cùng quan trọng, góp phần tạo nên thành công trong việc giải quyết các vấn đề trên. Cần tìm hiểu và nhận thức rõ ràng, đúng đắn về vấn đề biên giới, biển đảo.
       Tú còn to mồm “Vậy mà đảng Cộng sản Việt Nam vẫn chưa thấy hổ thẹn với tình trạng đất nước hiện tại sao vẫn còn rao giảng lòng yêu nước hay sao? Nước Việt năm Quý Tỵ 2013 sau 38 năm còng lưng nhẫn nhục sẽ không còn đủ kiên nhẫn cho đảng Cộng Sản xin thêm 38 năm nữa để sửa chữa sai lầm đâu !!! Hãy để những trí thức có tài có tâm lèo lái con thuyền Lac Việt, đưa đất nước Đại Việt ông cha ta đi tới, dám ngẩng mặt với thế giới đại đồng !!l!”. Một người trẻ, tương lai của đất nước, đã không nắm vững lịch sử dân tộc, không thấu hiểu rõ tình hình trong và ngoài nước như Tú mà dám cả gan kêu gọi thay thế người dẫn dắt đất nước. Với cách nhìn thiển cận, với giọng điệu điên cuồng như trên, liệu rằng những người mà Tú xác định là trí thức“có tài, có tâm” ấy có đảm bảo trí, lực lãnh đạo đất nước hay không?
Đôi lời ghi chép gửa đến “Thanh niên tiểu bối” Huỳnh Minh Tú, mong Tú có cái nhìn tích cực và đúng đắn hơn. Đừng để sau này khi đọc lại, tự trách mình “tuổi trẻ non nớt”, thiếu hiểu biết; biến thành một “vết nhục ngàn năm”.
Đại An

Trên các trang mạng xã hội như face book, twiter ngày hôm nay, hình ảnh cờ đỏ - sao vàng đã xuất hiện tràn ngập cùng với những stastus về niềm tự hào dân tộc về cái ngày trọng đại, lịch sử 38 năm về trước ngày mà miền Nam đã hoàn toàn giải phóng, đất nước được thống nhất.
          Trong bối cảnh tình hình bán đảo Triều Tiên đang diễn ra hết sức căng thẳng, chiến tranh có thể xảy ra bất kỳ khi nào thì những người dân Việt Nam mới thấy được giá trị quý báu của độc lập, thống nhất đất nước hơn lúc nào hết. Nếu như, 30.4.1975 Việt Nam không thể giải phóng được miền Nam, thống nhất đất nước cả dân tộc vẫn phải chịu sự chia cắt như trên bán đảo Triều Tiên, nếu như vậy thì liệu Việt Nam có thể có được vị thế như ngày hôm nay, có điều kiện, tiềm lực phát triển cả về kinh tế cũng như xã hội như bây giờ hay đang phải đối đầu với nguy cơ tiềm ẩn của cuộc chiến tranh hai miền mà ở đó người dân Việt đều không muốn đối đầu bắn giết nhau.
          Có người cho rằng cuộc chiến giải phóng miền Nam thống nhất đất nước là cuộc chiến tranh xâm lược của người “miền Bắc”, là cuộc chiến tranh phi nghĩa. Nhưng nhìn những hình ảnh đoàn người cờ hoa đón lực lượng quân giải phóng tiến vào Sài Gòn thì có thể thấy mong muốn cháy bỏng của người miền Nam về việc thống nhất đất nước như thế nào. Hàng ngàn, hàng vạn người dân miền Nam cũng đã anh dũng, kiên cường đấu tranh để tự giải phóng mình để thống nhất với miền Bắc thân yêu mà nếu như không có sự can thiệp của đế quốc Mỹ thì điều đấy đã xảy ra từ năm 1954 rồi. Để rồi với khát vọng độc lập, thống nhất họ đã phải chịu bao khó khăn, khổ ải để làm lên những điều phi thường như xây dựng địa đạo Củ Chi làm cho người Mỹ khiếp sợ.
          Hàng lớp lớp thế hệ thanh niên Việt Nam yêu nước đã ra đi thực hiện nốt công việc của cha anh để lại là giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, không quản ngại xương máu của mình vì nền độc lập dân tộc vì lý tưởng cao đẹp của bản thân mình và của cả thế hệ thanh niên Việt Nam khi đó. Ý thức bảo vệ độc lập dân tộc của người VIệt Nam luôn được thể hiện qua các thời kỳ khác nhau của lịch sử. Cũng như giờ đây thế hệ trẻ Việt Nam đang ra sức giữ vững chủ quyền biên giới, hải đảo của Tổ quốc mình.
Tổng thống Mỹ Barack Obama đã từng nói trong lễ kỷ niệm 50 năm ngày Chiến sỹ trận vong tại Đài tưởng niệm Chiến tranh Việt Nam ở thủ đô Washington D.C hôm 28/05/2012 rằng: “ Các bạn (những người lính Mỹ) đôi khi đã bị người ta đổ lỗi với những việc làm sai trái do một số ít người gây ra”; “Nhờ những bài học đắt giá từ Việt Nam, nhờ các bạn nước Mỹ đang mạnh hơn”. Như vậy, tổng thống Mỹ cũng đã thừa nhận cuộc chiến của người Mỹ ở Việt Nam khi ấy là một cuộc chiến tranh phi nghĩa, mà không gì hơn là các bài học đắt giá và không kém phần đau thương cho nước Mỹ cũng như các binh sĩ Mỹ tại Việt Nam và gia đình họ.
Đất nước đang trên đà phát triển cả về kinh tế cũng như xã hội đây là kết quả đạt được dưới sự chỉ đạo sáng suốt của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Phần lớn những người thuộc chế độ cũ đã có được cái nhìn khác về cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta và đang hết sức cống hiến cho đất nước tuy nhiên, một bộ phận nhỏ trong những người thuộc chế độ cũ vẫn coi ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước là ‘ngày quốc hận’. Đây là một sự thật đau lòng khi những người này vì không muốn mất các lợi ích của mình trước đây nên ra sức kêu gọi rửa hận, phục thù trong khi bản thân không thể tự làm ra của cải nuôi sống bản thân mình, luôn muốn sống phụ thuộc vào sự “bao bọc”, “cưu mang” của những người khác, nhiều người trong số những người sai lầm rời bỏ quê hương sau ngày 30/4 vì lợi ích của bản thân, vì sợ phải đối mặt với phán quyết của xã hội, nhân dân do tội ác của bản thân nhiều lần mong mỏi một ngày được trở về mảnh đất thân thương cho dù đó là thời điểm cuối cuộc đời đủ để thấy được họ đã trải nghiệm và thấy rõ giá trị đích thực của cuộc sống độc lập, tự do, hạnh phúc thật sự là như thế nào.
          Chiến tranh đã qua đi nhưng dư âm của nó thì còn mãi, cuộc chiến giải phóng miền Nam thống nhất đất nước là một cuộc chiến vĩ đại được đánh dấu thắng lợi vào ngày 30.4 lịch sử - ngày hội thống nhất đất nước của toàn dân tộc. Là biểu tượng, mốc son đáng tự hào không chỉ của dân tộc Việt Nam mà của tất cả những người có lương tri và yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới.
Hoàng Tuấn
| Copyright © 2013 Non sông Việt Nam
Mọi trích dẫn từ blog xin vui lòng ghi rõ nguồn " Blog Kênh Việt Nam"