Đã gần nửa năm trôi qua kể từ ngày Đại tướng Võ Nguyên Giáp từ trần để lại niềm đau thương vô hạn trong lòng dân tộc Việt Nam. Đất nước ta mất đi một nhân tài, dân tộc ta mất đi một nhà quân sự kiệt xuất…Tuy đại tướng đã đi xa nhưng người đã để lại cho dân tộc một kho tàng nghệ thuật quân sự, văn hóa đồ sộ. Trong đó có những quyết định và chỉ đạo kiệt xuất trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ (1954). Nhân kỉ niệm 60 năm chiến thắng Điện Biên Phủ ,  chúng ta sẽ cùng ôn lại những kỉ niệm của Đại Tướng với chiến dịch Điện Biên Phủ.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp là vị tổng chỉ huy đầu tiên và xuất sắc nhất của quân đội nhân dân Việt Nam, là người anh cả của quân đội ta từ khi còn non trẻ đến khi trở thành một đội quân hùng mạnh. Trong kháng chiến chống Pháp, dưới sự lãnh đạo của Võ Nguyên Giáp quân đội ta mặc dù còn trang bị yếu kém, tổ chức thiếu chặt chẽ đã ngày một trưởng thành, dám đương đầu với lại đội quân nhà nghề, thiện chiến của thực dân Pháp và làm nên những chiến thắng vang dội như: Việt Bắc, Biên Giới và Điện Biên Phủ.
Riêng với chiến dịch Điện Biên Phủ - đây là một chiến thắng có ý nghĩa đặc biệt bởi theo lời Đại tướng nói, trong chiến dịch này Người đã ra một quyết định “ khó khăn nhất trong cuộc đời binh nghiệp” của mình.

1, Con nhím Điện Biên Phủ và cái bẫy của thực dân Pháp.
          Điện Biên Phủ là một thung lũng lớn nằm ở phía Tây vùng rừng núi Tây Bắc cách Hà Nội khoảng 300km, cách Lai Châu 80 km về phía Nam. Nơi đây không những giữ vị trí chiến lược quan trọng ở Tây Bắc mà còn trên cả chiến trường Đông Dương.
          Cuối năm 1953, thực dân Pháp đã đề ra kế hoạch Nava với mưu đồ giữ thế phòng ngự chiến lược ở miền Bắc và tấn công bình định ở miền Nam, miền Trung Đông Dương, xóa sổ vùng tự do liên khu V sau đó thực hiện tấn công chiến lược ở miền Bắc, giành thắng lợi quân sự, buộc ta phải đàm phán với những điều kiện có lợi cho chúng.
Quân Pháp nhảy dù xuống Điện Biên Phủ
          Tuy nhiên, âm mưu đó không thể qua được đôi mắt tinh tường của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và bộ chỉ huy của ta. Đoán được ý đồ của địch, ta đã tiến công mạnh trên khắp các chiến trường, buộc địch phải phân tán, chia nhỏ lực lượng và làm đảo lộn cả kế hoạch Nava. Đứng trước nguy cơ thất bại, ngày 3/12/1953 Nava và bộ tổng chỉ huy Pháp đã quyết định "chấp nhận chiến đấu ở Điện Biên Phủ” sau đó đổ quân và xây dựng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ biến nơi đây thành nơi diễn ra trận quyết chiến chiến lược giữa chúng và bộ đội ta để quyết định cục diện chiến trường.
Từ cuối năm 1953, Pháp gấp rút biến Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm cực mạnh với 16200 quân, nhiều xe tăng, pháo binh, có cả trận địa pháo và sân bay. Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ còn được trang bị nhiều vũ khí, phương tiện hiện đại khác đồng thời sử dụng hơn 3.000 tấn dây thép gai để tạo thành những rừng thép gai bao quanh và bảo vệ cho các cứ điểm.
          Với những sự bố trí đó, thực dân Pháp rất tự tin vào thắng lợi cho mình, nhiều tướng lĩnh, chính khách Pháp như: Cogny, Navarre, Dejean, Ely, Blanc… đã đến tận nơi để kiểm tra và đều thống nhất đánh giá tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ là một “ Pháo đài không thế công phá”.
          Chúng âm mưu kéo chủ lực ta lên Điện Biên Phủ, biến Điện Biên Phủ thành “cối xay thịt” khổng lồ tiêu diệt chủ lực Việt Minh từ đó làm thay đổi cục diện chiến tranh theo hướng có lợi cho cho chúng. Kế hoạch là vậy, nhưng chúng có khả năng đó không lại là chuyện khác. Thế nhưng sự tự tin của Pháp đã đạt đến mức trong tháng 2/1954 chúng rải truyền đơn thách ta đánh Điện Biên Phủ. Thái độ xấc xược, ngạo mạn đó là điểu không thể chấp nhận được.

2, Chủ trương của ta.
          Căn cứ vào diễn biến thực tế trên chiến trường và thực lực của quân đội ta, Bộ chính trị và Trung Ương Đảng cũng đã quyết định chọn Điện Biên Phủ là nơi diễn ra cuộc quyết chiến chiến lược giữa ta và địch, là nơi diễn ra trận chiến lớn cuối cùng giữa “hổ và voi”
Các đồng chí lãnh đạo họp bàn và quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ.
        
  Ngày 6/12/1953, Bộ chính trị thông qua phương án mở chiến dịch Điện Biên Phủ (mật danh chiến dịch Trần Đình) của Tổng quân ủy. Đại tướng Võ Nguyên Giáp được chỉ thị trực tiếp làm tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy chiến dịch. Đến đây, cả ta và địch đều chấp nhận giao chiến ở Điện Biên Phủ, biến nơi đây thành  “điểm hẹn lịch sử”.

3, Đại tướng Võ Nguyên Giáp với chiến dịch Điện Biên Phủ.
          Đại tướng Võ Nguyên Giáp là Tổng tư lệnh quân đội kiêm Bí thư Tổng Quân uỷ, bí thư chiến dịch. Với vai trò và cương vị đó, trách nhiệm của Người thật nặng nề.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ đạo chiến dịch Điện Biên Phủ.
          
          Điện Biên Phủ là trận quyết chiến chiến lược lớn nhất và cuối cùng giữa ta và địch. Nó quyết định cục diện chiến trường chỉ được phép thắng, không được phép thất bại. Nếu thất bại thì chính bản thân đại tướng sẽ là người cảm thấy day dứt và có lỗi với lịch sử. Chiến dịch này quan trọng tới mức trước khi ra trận, chủ tịch Hồ Chí Minh đã dặn dò kĩ Đại tướng rằng: "Cho chú toàn quyền chỉ huy. Trận này chỉ được thắng không được thua vì thua là hết vốn" và Bác trao nhiệm vụ: "Trận này rất quan trọng, phải đánh cho thắng. Chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh".
Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Chủ tịch Hồ Chí Minh đang họp bàn kế hoạch.

Ngày 14/1/1954, tại hang Thẩm Púa, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Bộ chỉ huy chiến dịch phổ biến lệnh tác chiến bí mật với phương án "đánh nhanh thắng nhanh" và ngày nổ súng dự định là 20 tháng 1.
 Phương án này đặt kế hoạch tiêu diệt Điện Biên Phủ trong 3 ngày đêm bằng tiến công ồ ạt đồng loạt, thọc sâu đã được Trung ương ĐảngQuân ủy Trung ương cùng Bộ Tổng tham mưu phê duyệt với sự nhất trí của đoàn cố vấn quân sự trung ương Trung Quốc. Bởi đánh sớm vào thời điểm này khi Pháp đứng chân chưa vững, chưa tập trung đủ lực lượng và củng cố công sự thì có khả năng giành chiến thắng cao.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp phổ biến phương án tác chiến trong
chiến dịch Điện Biên Phủ.

Tuy nhiên, do một số đơn vị  pháo binh của ta vào trận địa chậm nên ngày nổ súng được quyết định lùi lại thêm 5 ngày đến 17 giờ ngày 25 tháng 1. Sau đó, một chiến sĩ của đại đoàn 312 không may bị địch bắt. Bộ phận thông tin kỹ thuật của ta nghe địch thông báo cho nhau qua điện đài về ngày giờ tiến công của bộ đội ta, như vậy tin về ngày nổ súng bị lộ, Pháp biết được. Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định hoãn lại 24 giờ, chuyển sang 26 tháng 1.
Như vậy, tình thế chiến trường đã có những biến chuyển khó lường và vô cùng bất lợi cho quân ta. Tính bí mật, bất ngờ chiến lược đã không còn nữa, đồng thời địch đã tăng cường củng cố công sự, tăng cường đề phòng quân ta tiến công. Trước tình hình khó khăn đó, nên tiếp tục liều lĩnh tấn công hay tạm thời rút lui, thay đổi cách đánh cho hiệu quả và phù hợp với tình hình mới? Nếu thay đổi cách đánh thì biết giải thích với bộ đội ra sao cho không mất nhuệ khí tiến công? Vấn đề lương thực, hậu cần đã chuẩn bị xong xuôi giờ giải quyết thế nào? Những câu hỏi ấy cứ đau đáu trong đầu Đại tướng suốt những ngày đó. Giữa thời khắc lịch sử đầy khó khăn này với tầm trí tuệ kiệt xuất Đại tướng đã đưa ra những quyết định cực kì sáng suốt. Trong cuốn hồi kí “Điện Biên Phủ - Điểm hẹn lịch sử” Đại tướng đã kể lại về những suy nghĩ của mình trong đêm 25/1/1954 ấy:
“Tôi đã hiểu vì sao mọi người đều lựa chọn phương án đánh nhanh ? Vấn đề tiếp tế khó khăn chỉ là một lý do. Chúng ta không phải hoàn toàn không có cách khắc phục khó khăn này. Lý do chính là e thời gian chuẩn bị kéo dài, địch sẽ tăng thêm quân, tập đoàn cứ điểm ngày càng mạnh, sẽ làm ta mất cơ hội tiêu diệt địch”.
Tuy nhiên, tình thế hiện nay: “Địch đã củng cố công sự phòng ngự, không còn là trận địa dã chiến. Bộ đội sẽ phải tiến hành một trận công kiên vào một tập đoàn cứ điểm phòng ngự vững chắc chưa từng có”.
“Ba khó khăn hiện lên rất rõ:
Thứ nhất: Bộ đội chủ lực ta đến nay chỉ tiêu diệt cao nhất là tiểu đoàn địch tăng cường…công sự dã chiến nằm trong tập đoàn cứ điểm, vẫn có những trận không thành công, bộ đội thương vong nhiều.
Thứ hai: Trận này tuy ta không có máy bay, xe tăng, nhưng đánh hiệp đồng binh chủng bộ binh, pháo binh với quy mô lớn lần đầu, mà lại chưa qua diễn tập. …
Thứ ba: Bộ đội ta từ trước tới nay mới chỉ quen tác chiến ban đêm, ở những địa hình dễ ẩn náu. Chủ lực ta chưa có kinh nghiệm công kiên ban ngày trên trận địa bằng phẳng, với một kẻ địch có ưu thế về máy bay, pháo binh và xe tăng…”
Cuộc họp Đảng ủy, Bộ chỉ huy chiến dịch sáng 26 tháng 1 không đi đến được ý kiến thống nhất tuy không ai tin rằng trận này sẽ chắc thắng, không đảm thể đảm bảo thắng lợi một trăm phần trăm được. Vào cuối cuộc họp, đảng ủy mới đi tới nhất trí là trận đánh có thể gặp nhiều khó khăn mà ta chưa có biện pháp cụ thể để khắc phục.
Trong thời khắc ấy, đánh hay thay đổi cách đánh là một quyết định vô cùng khó khăn, nếu quyết định sai là có tội với lịch sử, với Đảng, với nhân dân, trên vai Đại tướng như có một gánh nặng ngàn cân. Tuy nhiên, bằng thiên tài quân sự và tài trí tuyệt vời của mình, Đại tướng đã đưa ra quyết định đúng đắn: Thay đổi cách đánh và đình chỉ ngay cuộc tấn công sắp diễn ra vào chiều 26/1/1954!
Cuối cuộc họp Đảng ủy mặt trận bằng uy tín và quyền lực của mình, Đại tướng đã táo bạo kết luận: “Để bảo đảm nguyên tắc cao nhất là "đánh chắc thắng", cần chuyển phương châm tiêu diệt địch từ "đánh nhanh thắng nhanh" sang "đánh chắc tiến chắc". Nay quyết định hoãn cuộc tiến công. Ra lệnh cho bộ đội trên toàn tuyến lui về địa điểm tập kết, và kéo pháo ra!”
Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp kiểm tra pháo cao xạ 37 ly

Lịch sử đã chứng minh rằng: đây là một quyết định hoàn toàn sáng suốt!
Thực tế cho thấy, việc tấn công vào tập đoàn cứ điểm mạnh và kiên cố như Điện Biên Phủ bằng phương pháp “đánh nhanh, thắng nhanh” trong điều kiện vũ khí, khí tài của ta còn hạn chế là quá chủ quan, phiêu lưu, mạo hiểm, không đánh giá hết sức mạnh của địch, không đảm bảo chắc thắng, nếu cứ liều lĩnh tiến công, ta ắt phải trả giá cực đắt! Tuy nhiên, với trí tuệ quân sự sáng suốt của mình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nhận ra được vấn đề. Ông cho rằngđịch không còn trong trạng thái lâm thời phòng ngự, mà đã trở thành một tập đoàn cứ điểm phòng ngự kiên cố. Vì vậy không thể đánh theo kế hoạch đã định” và “sức mạnh tinh thần cũng có những giới hạn. Không phải chỉ với sức mạnh tinh thần cao mà lúc nào cũng chiến thắng quân địch”. Từ đó, Đại tướng kiên quyết bác bỏ phương án “đánh nhanh, thắng nhanh” và tổ chức lại thế trận theo phương án “đánh chắc, tiến chắc”. Nếu ví Điện Biên Phủ như một “củ hành” thì ta sẽ “bóc từng lớp vỏ” của nó. Chính tướng Na-va, trong hồi kí của mình cũng khẳng định: “Nếu tướng Giáp tiến công vào khoảng 25 tháng 1 như ý đồ ban đầu thì chắc chắn ông ta sẽ thất bại…”. Còn  Đại tướng Lê Trọng Tấn sau này đã nhận xét: Nếu Đại tướng Tổng tư lệnh không quyết đoán thì toàn bộ lực lượng của ta đã bị “phơi áo” trong lòng chảo Điện Biên. Ông còn nhấn mạnh: "Nếu không có thay đổi trên, cuộc kháng chiến có thể phải chậm mất 10 năm".
Với quyết định “đánh chắc, tiến chắc”, dưới sự chỉ huy của đại tướng Võ Nguyên Giáp quân đội ta đã tấn công và làm lên thắng lợi vẻ vang “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”.

4, Vai trò cá nhân lãnh đạo của Đại tướng Võ Nguyên Giáp với chiến dịch Điện Biên Phủ.
          Thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ là thắng lợi chung của cả dân tộc ta, của toàn Đảng, toàn dân. Tuy nhiên, trong đó vẫn nổi lên vai trò lãnh đạo kiệt xuất của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Tổng kết lại lịch sử, Đại tướng giữ  vai trò như sau:
Một là: Lựa chọn phương án tác chiến đúng.
Để tấn công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ có nhiều phương án, tuy nhiên để chọn phương án đúng là vấn đề rất khó. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã sáng suốt lựa chọn phương án tối ưu nhất cho chiến dịch: “Đánh chắc, tiến chắc” để đảm bảo nguyên tắc “đánh chắc thắng”. Đây là phương án hoàn toàn đúng đắn thể hiện sự linh hoạt sáng tạo theo tình hình thực tế, không cứng nhắc, giáo điều trong thời điểm quyết định trong tư duy của Đại tướng.
Hai là: Dám quyết định trong thời điểm lịch sử.
Điều này thể hiện rõ trong cuộc họp Đảng ủy mặt trận chiến dịch Điện Biên Phủ ngày 26/1/1954. Trong cuộc họp, các đồng chí trong ban lãnh đạo chiến dịch vẫn còn tranh luận gay gắt và có nhiều mâu thuẫn chưa thể giải quyết về phương án tác chiến thì chính lúc này Đại tướng với tư cách là tổng tư lệnh, chỉ huy cao nhất mặt trân đã tự mình gánh lấy trách nhiệm với lịch sử mà kiên quyết ra quyết định: “Để bảo đảm nguyên tấc cao nhất là "đánh chắc thắng", cần chuyển phương châm tiêu diệt địch từ "đánh nhanh thắng nhanh" sang "đánh chắc tiến chắc". Nay quyết định hoãn cuộc tiến công. Ra lệnh cho bộ đội trên toàn tuyến lui về địa điểm tập kết, và kéo pháo ra. Công tác chính trị bảo đảm triệt để chấp hành mệnh lệnh lui quân như mệnh lệnh chiến đấu. Hậu cần chuyển sang chuẩn bị theo phương châm mới”. Như vậy, có thể thấy, ở những thời khắc lịch sử, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã cực kỳ cẩn trọng đưa ra những quyết định vô cùng sáng suốt, lấy sự tồn vong của dân tộc lên hàng đầu trong mọi tính toán, cân nhắc. Điều đó, đã mang tới những chiến công lừng lẫy của một đội quân nhân dân với những người lính dũng cảm chiến đấu không tiếc xương máu, dưới sự chỉ đạo, dìu dắt của người Tổng tư lệnh mưu trí tuyệt vời, quý trọng tính mạng của cán bộ, chiến sĩ trong từng quân lệnh.
 Chính mệnh lệnh bắt buộc của tổng tư lệnh tối cao đã tạo nên sự thống nhất trong phương án tác chiến, loại bỏ những tranh luận không đáng có trong ban chỉ đạo chiến dịch, tập trung tối đa tinh thần cho phương án tác chiến mới, góp phần làm nên thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ. Để ra được quyết định như vậy không phải là chuyện đơn giản phải là một người cực kì bản lĩnh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã thể hiên được bản lĩnh của mình, thể hiện được khí phách của người lãnh đạo tối cao, người cầm trịch trận đánh. Bản lĩnh đó đã đưa Đại tướng Võ Nguyên Giáp trở thành một anh hùng của dân tộc Việt Nam, một vị tướng huyền thoại với nhân dân trên toàn thế giới, người mà đã được báo chí Pháp gọi với tên là Napoleon đỏ của Việt Nam.
Ba là : Kiên quyết thực hiện quyết định.
Sau khi thay đổi phương án tấn công, chúng ta vấp phải những khó khăn vô cùng lớn: về mặt hậu cần, chúng ta phải huy động một lượng vật chất cực lớn ra chiến trường trong điêu kiện rất khó khăn. Về phía địch, chúng có thời gian để củng cố và xây dựng vững chắc hơn tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Việc tấn công sẽ vấp phải những khó khăn lớn hơn rất nhiều so với “đánh nhanh thắng nhanh”. Nếu không bản lĩnh, đối mặt với những khó khăn đó, ta có thể nản lòng. Tuy nhiên, dưới sự chỉ huy kiên quyết của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, quân và dân ta đã quyết tâm vượt mọi khó khăn, kiên quyết thực hiện phương án “đánh nhanh, thắng nhanh” đến thắng lợi cuối cùng.
Mệnh lệnh tổng công kích của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

          Bốn là : Đại tướng Võ Nguyên Giáp là chỗ dựa tinh thần, là niềm tin của quân đội.
          Đại tướng Võ Nguyên Giáp gắn bó với quân đội từ khi mới hình thành, đồng hành cùng quân đội ta trên mỗi bước đường lịch sử. Tài năng và uy tín của Đại tướng được tướng và sĩ trong quân đội đặc biệt tín nhiệm, Đại tướng được quân đội coi như người anh cả của mình, mỗi người lính đều đặt niềm tin tuyệt đối vào Đại tướng.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp thăm thương binh sau chiến dịch Điện Biên Phủ.

         Khi quân đội ta đứng trước thử thách lớn: Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, trong quá trình chuẩn bị cũng như tấn công, chúng ta đã vượt qua mọi khó khăn để giành thắng lợi cuối cùng, để làm nên thắng lợi đó, một phần là do niềm tin tuyệt đối, sự kiên quyết phục tùng mệnh lệnh của quân đội ta với “người anh cả” của mình.

Dũng Hải
          Đã 60 năm trôi qua kể từ ngày quân, dân ta làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu", nhưng ý nghĩa và tầm vóc của sự kiện lịch sử trọng đại này không hề phai mờ. Điện Biên Phủ là chiến dịch lớn nhất và là chiến thắng vĩ đại nhất của dân tộc ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Chiến thắng Điện Biên Phủ “được ghi vào lịch sử dân tộc Việt Nam như một Bạch Đằng, một Chi Lăng hay một Đống Đa trong thế kỷ XX, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công chói lọi đột phá thành trì của hệ thống nô dịch thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc”. Để có được thắng lợi đó, quân và dân ta dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, của chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đã có sự chuẩn bị chu đáo, tỉ mỉ trong một thời gian dài. Thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ là sự kết tinh của nhiều nhân tố, trong đó công tác hậu cần chiến dịch đóng góp một vai trò không hề nhỏ.
          Trong chiến tranh, vấn đề hậu cần có thể quyết định được thành - bại của cuộc chiến. Lịch sử đã chứng minh rằng quan điểm này hoàn toàn đúng.
          Trong lịch sử chống xâm lăng nước ta, chúng ta từng đương đầu với quân Nguyên hùng mạnh, tuy nhiên khi vào nước ta lần 1 (1228) do không chuẩn bị trước lương thực lâu dài nên bị ta đánh cho tan tác, buộc phải rút lui; lần 3 (1288) khi đoàn thuyền lương của chúng do Trường Văn Hổ chỉ huy bị ta tiêu diệt, quân Nguyên không đánh cũng tự tan, phải rút quân về nước.
          Trong lịch sử Trung Quốc, khi trận hội chiến Quan Độ (năm 200) giữa Tào Tháo và Viên Thiệu đang diễn ra quyết liệt, quân Tào Tháo đang thất thế nhờ Tào Tháo tỉnh táo đánh vào Ô Sào (nơi chứa lương thực của quân Viên Thiệu) mà giành lại được thế thượng phong và sau đó đánh tan quân Viên Thiệu.
          Trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, nhận thấy vấn đề hậu cần chiến dịch là vấn đề cực kì quan trọng nên Đảng và Chính phủ đặc biệt chú trọng vấn đề này.

1, Những yêu cầu của công tác hậu cần trong chiến dịch.Trong binh pháp của người xưa có câu: “thực túc binh cường”, trong chiến tranh cách mạng bộ đội ta cũng có câu: “ăn no đánh thắng”. Vì vậy, công tác hậu cần chiến dịch cần chuẩn bị thật chu đáo mới đảm bảo cho bộ đội ta yên tâm chiến đấu.
Xác định được tầm quan trọng của vấn đề này, ngay sau khi chấp thuận đề nghị thay đổi phương châm tác chiến ở Điện Biên Phủ, Bộ Chính trị đã ra chỉ thị "Toàn Đảng, toàn dân tập trung toàn lực chi viện cho tiền tuyến”. Việc huy động toàn bộ sức người, sức của ở hậu phương phục vụ cho tiền tuyến mang một quy mô mới. Những kinh nghiệm về công tác hậu cần chiến dịch được rút ra sau mỗi mùa khô từ khi bộ đội ta bắt đầu đánh lớn cuối năm 1950, đều được vận dụng trong Đông Xuân 1953-1954 một cách hiệu quả và đúng đắn.
Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng chủ tịch Hội đồng cung cấp chiến dịch
Điện Biên Phủ
Để làm tốt công tác tổ chức hậu cần cho chiến dịch, Hội đồng Cung cấp mặt trận được thành lập ở trung ương do phó thủ tướng chính phủ Phạm Văn Đồng (sau đó ông là Thủ tướng chính phủ) làm chủ tịch, Tổng thanh tra chính phủ Nguyễn Văn Trân làm phó chủ tịch. Ở các tỉnh và liên khu cũng thành lập các Hội đồng cung cấp mặt trận Liên khu và tỉnh. Công tác hậu cần chiến dịch lần đầu được phân thành hai tuyến: tuyến hậu phương và tuyến chiến dịch. Tổ chức mới này giúp giảm bớt một phần lớn áp lực vận chuyển cho bộ phận cung cấp tiền phương. Bộ phận này tập trung được toàn bộ sức lực cho công việc vận chuyển ở tiền phương.
Ban tham mưu chiến dịch dành nhiều thời gian làm việc với cơ quan cung cấp, xác định những yêu cầu mới về lương thực, đạn dược. Nhu cầu bảo đảm vật chất dự kiến ban đầu là 434 tấn đạn, 1.730 tấn gạo, 140 tấn muối, 465 tấn thực phẩm khô. Tuy nhiên, khi ta “chuyển sang đánh chắc, tiến chắc” đã tăng ít nhất là gấp ba, riêng về gạo, cần tới trên 20.000 tấn. Đây là một thách thức lớn với quân và dân ta vì điều kiện ta lúc đó cực kì khó khăn, ta chưa bao giờ huy động và vận chuyển một khối lượng vật chất lớn như thế ra chiến trường. Một lần nữa tình ưu việt của chế độ mới lại bị thử thách.
Tuy nhiên, rút kinh nghiệm chiến dịch trước, ta chủ trương tranh thủ tối đa việc huy động lương thực, thực phẩm tại địa phương, và sừ dụng phương tiện vận chuyển cơ giới. Chính quyết sách này đã đem lại hiệu quả cao cho công tác hậu cần chiến dịch.

2, Công tác hậu cần chiến dịch và những kì tích.
a. Những trở ngại trong công tác hậu cần chiến dịch.
- Về địa hình:
Tây Bắc là khu vực núi có địa hình cao, đồ sộ và hiểm trở nhất nước ta. Phía Đông là dãy núi cao đồ sộ Hoàng Liên Sơn giới hạn từ biên giới Việt-Trung tới khuỷu sông Đà, có đỉnh Phan Xi Păng (3143m). Phía Tây là địa hình núi trung bình của các dãy núi chạy dọc biên giới Việt-Lào, từ Khoan La San tới sông Cả. Ở giữa thấp hơn là các dãy núi, các sơn nguyên và các cao nguyên đá vôi từ Phong Thổ đến Mộc Châu tiếp nối những đồi núi đá vôi ở Ninh Bình tới Thanh Hóa.… Địa hình này bị chia cắt mạnh, lắm sông suối, hẻm vực, sườn dốc; đồng thời do mưa nhiều, độ dốc lớn, miền núi là nơi dễ xảy ra các thiên tai như: lũ nguồn, lũ quét, xói mòn, trượt lở đất… Những điều kiện tự nhiên khắc nghiệt trên gây có khăn đặc biệt lớn cho giao thông vận tải và vận chuyển hàng hóa giữa Tây Bắc với các vùng khác.
Cho tới tận ngày nay, đường giao thông lên Tây Bắc vẫn còn rất khó khăn và hạn chế. Vậy sức mạnh thần kì nào trong chiến dịch Điện Biên Phủ đã khiến quân và dân ta lại có thể vượt qua những điều kiện khó khăn đó để làm tốt công tác hậu cần chiến dịch?
- Về sự đánh phá của địch.
Ngày từ đầu năm 1954, nhận thấy quân và dân ta đang vận chuyển lên Điện Biên Phủ một khối lượng vật chất lớn, thực dân Pháp tìm mọi cách ngăn cản điều này. Trên các tuyến đường vận chuyển trọng yếu của ta, bộ tham mưu Pháp đã tìm được “40 điểm có thể cắt đứt, tạo ra hiệu quả lớn". Pháp tính đến cả cách dùng mưa nhân tạo để phá đường.
Máy bay ném bom B26, Pháp sử dụng trong chiến dịch Điện Biên Phủ
 Ở hậu phương, địch đánh rất mạnh vào những trọng điểm: đèo Giàng, từ Cao Bằng xuống, đèo Cà, từ Lạng Sơn về, đèo Khế từ Thái Nguyên sang Tuyên Quang, để triệt nguồn tiếp tế của ta ngay từ gốc. Những trận oanh tạc không chỉ nhắm vào đèo núi cao mà còn chú trọng cả những đoạn đường nằm trên cánh đồng thấp để biến nó thành vũng lầy rất khó sửa chữa. Trên tuyến chiến dịch, máy bay địch đánh phá án liệt các đèo Lũng Lô, Pha Đin và những đầu mối giao thông Cò Nòi, Tuần Giáo ngăn không cho gạo, đạn tới được các đơn vị ở mặt trận. Có ngày, chúng ném xuống Cò Nòi 300 trái bom, Pha Đin, 160 trái, gồm bom phá, bom napan, bom nổ chậm..
Về đường vận tải và công cụ phương tiện.
Cũng xin nhắc lại, điều kiện của quân và dân ta lúc đó đặc biệt khó khăn, chúng ta hầu như chỉ có sức người là chính với sự ủng hộ nhiệt tình của đồng bào các dân tộc Tây Bắc.
 Trong làm đường: Đường ra mặt trận rất khó khăn, hiểm trở, hầu hết là đường nhỏ, hẹp, nhiều đoạn sụt lở, hầu hết cầu cống đều hư hỏng, xe cơ giới không thể di chuyển. Trong khi đó, yêu cầu mở rộng, sửa chữa đặt ra cấp bách mà công cụ mở đường của ta thì hầu như toàn công cụ thô sơ như búa, cuốc, xẻng, rìu, thuổng, đẽo.., máy móc hỗ trợ thì gần như không có.
Trong vận tải : Để tăng cường hiệu quả công tác hậu cần chiến dịch, toàn bộ số xe cơ giới của ta gồm 16 đại đôi với 628 xe cho công việc này. Tuy nhiên, số lượng xe ít ỏi này chưa đáp ứng được yêu cầu vận tải cho chiến dịch. Ngoài ra, chúng ta chỉ có xe đạp, xe thô sơ…Đường sông thì vô cùng hiểm trở, với nhiều thác ghềnh, độ dốc lớn.
Với những khó khăn đặt ra như vậy thậm chí cơ quan tham mưu của Nava ở Sài Gòn tin rằng: Việt Minh không thể duy trì ở thượng du quá 2 đại đoàn và 20.000 dân công, sự bấp bênh về giao thông không cho phép họ mang tới đó pháo trên 75 ly cùng với đạn pháo quá 7 ngày chiến đấu.
          b. Kì tích xuất hiện…
Khi có chỉ thị của Trung ương, trong cả nước, ở khắp mọi nơi, đều nô nức một bầu không khí gấp gáp, khẩn trương. Những câu hát vang lên như tiếp thêm sức mạnh cho các chiến sĩ:
“Qua miền tây bắc núi ngút ngàn trùng xa
   Núi sâu đèo cao bao khó khăn ta vượt qua
                                Bộ đội ta vâng lệnh cha già
                                Về đây giải phóng quê nhà.”
Bầu không khí sục sôi ấy đã được nhà thơ Tố Hữu ghi lại bằng những vần thơ dồn dập, mạnh mẽ:
“Những đường Việt Bắc của ta
Ðêm đêm rầm rập như là đất rung
Quân đi điệp điệp trùng trùng
Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan
Dân công đỏ đuốc từng đoàn
Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay.
Nghìn đêm thăm thẳm sương dày
Ðèn pha bật sáng như ngày mai lên”.
                                                     (Việt Bắc-Tố Hữu)
          Vượt lên trên mọi khó khăn của địa hình, sự đánh phá ác liệt của quân thù, quân và dân ta huy động tối đa sức người, sức của quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ hậu cần chiến dịch khó khăn và nặng nề này. Thậm chí, các đồng chí lãnh đạo cấp cao như: Nguyễn Chí Thanh, Nguyễn Văn Trân, Trần Lương trực tiếp xuống thực tế nhiều địa phương để làm công tác chỉ đạo và động viên cho việc hậu cần chiến dịch.
          Chỉ trong một thời gian ngắn một lực lượng lớn dân công hỏa tuyến với 260000 người (gấp 13 lần dự báo của Pháp) được huy động vào công tác hậu cần, đóng góp 11 triệu ngày công. Phương tiện cơ giới vận chuyển gồm có 628 ô tô, 11.800 thuyền, bè, hơn 20000 ngàn xe đạp, xe thồ và hàng ngàn phương tiện vận chuyển thô sơ khác. Những con số khổng lồ đó đã nói lên sức mạnh và niềm tin của nhân dân vào Đảng cũng như tinh thần nhiệt tình cách mạng của quần chúng trong chiến dịch lịch sử này.
          Để huy động lương thực, thực phầm cho chiến dịch: ta quyết định huy động từ 2 nguồn: tại chỗ và từ hậu phương lên.
Do khả năng vận chuyển, tiếp tế bằng dân công gánh bộ cần huy động nhiều nhân công mà hiệu quả lại cực kì thấp (trong chiến dịch Tây Bắc, lương thực từ hậu phương đưa ra mặt trận bằng dân công gánh bộ, tới nơi chi còn nộp kho được 8%) nên công tác huy động lương thực thực phẩm tại chỗ và sử dụng cơ giới vận chuyển mang lại hiệu quả cao được ta ưu tiên chú trọng.
Về huy động lương thực thực phẩm tại chỗ: Tây Bắc là vùng núi cao đồ sộ, có rất ít diện tích đất đai để canh tác. Tuy nhiên, vùng này lại có bốn cánh đồng rất màu mỡ là: Mường Thanh, Mường Lò, Mường Than, Mường Tấc đây chính là bốn vựa lúa lớn nhất của vùng này.
Cánh đồng Mường Thanh ngày nay
Hội đồng Cung cấp chiến dịch dự định huy động tại Tây Bắc khoảng 6.000 tấn lương thực. Số lương thực này nếu đưa từ xa tới sẽ phải huy động nhiều gấp ba, bốn lần. Sau khi chủ trương đến được với đồng bào, đồng bào các dân tộc ở Tây Bắc đã nhiệt tình ủng hộ cách mạng vượt mức kế hoạch với hơn 7000 tấn gạo, gần 400 tấn thịt. Số lương thực thực phẩm quí báu đó đã góp phần không nhỏ làm lên thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ.
Về vấn đề vận chuyển nhu yếu phẩm, quân trang, vũ khí từ hậu phương vào chiến dịch: Quân và dân ta tích cực sửa sang và mở rộng những tuyến đường vận tải quan trọng không những để chạy xe vận tải mà còn để kéo pháo vào chiến dịch. Nhờ có tầm nhìn xa trông rộng nên từ trước đó ta đã khôi phục và mở rộng 4.500 kilômét đường, trong đó có trên hai ngàn kilômét cho xe cơ giới.
Bộ đội ta phá đá, mở đường
 Bắt đầu mở chiến dịch ta đã sửa chữa và mở rộng nhiều tuyến đường như: Tuần Giáo - Lai Châu, Tuần Giáo - Điện Biên đủ để cho xe vận tải, xe kéo pháo tiến vào trận địa. Trong quá trình sửa chữa và mở rộng này ta gặp rất nhiều khó khăn, nhiều đoạn đường phải có địa thế cực kì hiểm trở (trong thế chiến lần thứ hai, ở Mianma, quân đội Mỹ với những máy móc và phương tiện xây dựng hiện đại phải đã mất 18 tháng mới xây dựng gấp rút xong một con đường dài 190 kilômét trong điều kiện không bị kẻ địch cản trở. Trong khi đó, chúng ta chỉ có chưa tới nửa năm để xây dựng 160 kilômét đường ở ngay mặt trận dưới sự đánh phá thường xuyên của địch mà trong tay chỉ có những công cụ thô sơ nhất, việc xây dựng hầu sử chỉ sử dụng sức người với sức mạnh tinh thần và lòng quyết tâm lớn lao.
Kết quả là công binh và dân công hỏa tuyến ta đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chỉ trong thời gian ngắn. Với tinh thần “cả nước cùng ra trận”, sức mạnh và ý chí của toàn dân ta đã được phát huy cao độ.
Cùng thời gian, ta huy động toàn bộ lực lượng cơ giới của quân đội với 16 đại đội, 628 ô tô phục vụ cho chiến dịch. Đây là lực lượng chính để vận chuyển hàng hóa vào chiến trường.
Bên cạnh đó, để tăng thêm hiệu quả của công tác vận chuyển, hạn chế thiệt hại do địch đánh phá và khắc phục những điểm mà cơ giới không vận chuyển tới được ta quyết định huy động vào chiến dịch cả những phương tiện vận tải thô sơ như xe thồ, xe ngựa, xe trâu…vv. Đặc biệt, xe đạp thồ được huy đông tối đa vào chiến dịch với khoảng 20.000 chiếc với hiệu quả vận chuyển ngày càng được nâng cao, lúc đỉnh điểm nhiều chiếc xe đạp thồ được tới 300 kg, thậm chí có những chiếc lên tới 352 kg...
Xe thồ vận chuyển lương thực trong chiến dịch Điện Biên Phủ
Chính phương tiện vận chuyển này đã gây nên bất ngờ lớn với quân địch, máy bay và pháo binh của địch có thể phá được đường lớn và ngăn chặn cơ giới của ta nhưng chúng không thể ngăn hàng chục ngàn phương tiện thô sơ của ta như những con thoi đêm ngày tải hàng ra chiến trường. “Một lần nữa, kỹ thuật lại bị thua bởi những con người có tâm hồn và một lòng tin.”  (Paul Ély)
Mặt khác, do địa hình Tây Bắc có nhiều sông suối chảy qua, có thể lợi dụng sức nước để giảm bớt sức người nên ta cũng rất chú trọng khai thác tuyến đường vận tải quan trọng này.
Tuy nhiên, sông suối Tây Bắc rất hiểm trở với nhiều thác ghềnh, lòng sông nhiều đoạn rất nhỏ và nhiều đá ngầm gây khó khăn lớn cho thuyền bè qua lại. Khắc phục khó khăn, bộ đội ta đã tích cực phá đá, phục ghềnh, khai thông dòng Nậm Na. Hiệu suất vận chuyển ngày càng nâng cao, tần suất chuyến được tăng cường, thuyền bè cập bến Lai Châu ngày càng nhiều. Riêng ở trên tuyến đường này, chỉ trong một thời gian ngắn ta đã vận chuyển ra chiến trường được hơn 1700 tấn gạo.
Vận chuyển gạo bằng đường sông lên mặt trận
Như vậy, chỉ sau một thời gian ngắn vượt qua mọi khó khăn của địa hình, sự ngăn cản của địch, với tinh thần “ tất cả cho chiến dịch và tất cả để chiến thắng” quân và dân ta đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ hậu cần cho chiến dịch:
“Dốc Pha Đin, chị gánh anh thồ
Đèo Lũng Lô, anh hò chị hát
Dù bom đạn xương tan, thịt nát
Không sờn lòng, không tiếc tuổi xanh…”
(Hoan hô chiến sĩ Điện Biên – Tố Hữu)
  Hàng chục ngàn tấn vũ khí, đạn dược, 27000 tấn gạo, hơn 1800 tấn thịt đã được chuyển ra mặt trận. Cả dân tộc Việt Nam đã đảm bảo công việc hậu cần cho một lực lượng bộ đội lớn, tác chiến trên một mặt trận rất xa, trong một thời gian dài; một việc làm mà quân Pháp không thể lường trước được, nằm ngoài sức tưởng tượng của chúng. Bộ đội ta có thêm niềm tin để vững chân bước vào một trận đánh lớn. Đó là một trong những nhân tố quyết định đển làm nên một Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu chấn động địa cầu.

3, Ý nghĩa của công tác hậu cần với chiến dịch Điện Biên Phủ.
Lịch sử thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ là lịch sử của cuộc chiến tranh nhân dân trên phạm vi cả nước, trong đó hoạt động hậu cần là một minh họa hoành tráng và sinh động. Hàng ngàn liệt sĩ hy sinh trong chiến dịch Điện Biên Phủ, có biết bao người làm hậu cần và dân công hỏa tuyến. Họ góp phần xương máu làm nên kỳ tích, bảo đảm hậu cần cho hơn 5 vạn người tham gia chiến đấu. Trong chiến thắng oanh liệt vĩ đại của Điện Biên Phủ, xứng đáng có chiến thắng trên cả mặt trận hậu cần chiến dịch.
Công tác hậu cần chiến dịch chính là nền tảng vững chắc để quân và dân ta làm nên chiến thắng ở Điện Biên Phủ. Nhờ đảm bảo tốt công tác hậu cần, đảm bảo đủ nhu cầu của mặt trận nên bộ đội ta rất yên tâm chiến đấu và làm nên thắng lợi vẻ vang
Công tác hậu cần chiến dịch Điện Biên Phủ để lại cho chúng ta những kinh nghiệm đắt giá về sự lãnh đạo đúng đắn, tài tình, nhạy bén và sự tổ chức của Đảng, chính phủ và quân ủy Trung Ương. Chính sự sáng suốt, tầm nhìn xa trông rộng này là kim chỉ nam cho quân đội ta đi tới thắng lợi cuối cùng.
Công tác hậu cần chiến dịch Điện Biên Phủ Để còn để lại nhiều bài học quí báu cho công tác hậu cần trong những chiến dịch sau này. Như kinh nghiệm vận chuyển hàng hóa qua điều kiện địa hình rừng núi hiểm trở, đường vận chuyển dài, bị địch đánh phá; kinh nghiệm mở đường…Tất cả những kinh nghiệm đó được quân và dân ta vận dụng sáng tạo và rất có hiệu quả trong kháng chiến chống Mỹ, góp phần hình thành lên tuyến đường vận chuyển 559 Trường Sơn huyền thoại.
Cuối cùng, qua công tác hậu cần chiến dịch Điện Biên Phủ, chúng ta đã cho thấy cả thế giới biết rằng ý chí và nghị lực của dân tộc Việt Nam phi thường như thế nào. Không một khó khăn nào có thể cản bước dân tộc ta đi tới vinh quang, tới thắng lợi cuối cùng. Ý chí và nghị lực phi thường của nhân dân đã được thử thách và minh chứng rõ ràng nhất trong chiến thắng Điện Biên Phủ.
“Kháng chiến ba nghìn ngày  
Không đêm nào vui bằng đêm nay
Đêm lịch sử Điện Biên sáng rực
Trên đất nước, như
Huân chương trên ngực
Dân tộc ta dân tộc anh hùng!”
Dũng Hải
Nhân kỷ niệm 60 chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954 - 7/5/2014), KenhVietNam xin đăng tải những góc nhìn tổng thể và cụ thể về chiến thắng "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu" của quân và dân Việt Nam.
Đại tướng, Tổng tư lệnh, Võ Nguyên Giáp - linh hồn của Chiến dịch Điện Biên Phủ

TỔNG QUAN

1, Âm mưu của địch

                Cho tới đông xuân 1953-1954 quân Pháp ngày càng sa lầy trên chiến trường Đông Dương và có nguy cơ bại trận rất lớn. Để cứu vãn tình thế  ngày 24/7/1953, Hội đồng quốc phòng Pháp dưới sự chủ trì của Tổng thống Vanh xăng Ô ri ôn đã thông qua kế hoạch Nava. Kế hoạch Na va gồm hai bước:

                Bước thứ nhất: Giữ thế phòng ngự chiến lược ở Miền Bắc và tấn công bình định ở miền Nam, miền Trung Đông Dương, xóa sổ vùng tự do liên khu V.

                Bước thứ hai: Thực hiện tấn công chiến lược ở miền Bắc, giành thắng lợi quân sự, buộc ta phải đàm phán với những điều kiện có lợi cho chúng.

                Để thực hiện kế hoạch này, thực dân Pháp một mặt tích cực xin thêm viện trợ của Mĩ, đồng thời ra sức bắt lính, tập trung quân tinh nhuệ, xin thêm lính ở “chính quốc” để xây dựng một lực lượng cơ động mạnh nhằm tăng cường càn quét và tiến hành quyết chiến với bộ đội chủ lực của ta.

                Trong thu – đông 1953, Nava tập trung ở đồng bằng Bắc Bộ một lực lượng cơ động cực mạnh gồm 44 trong tổng số 84 tiểu đoàn quân cơ động của chúng trên toàn chiến trường Đông Dương.

                Kế hoạch Nava là một kế hoạch dựa trên sự nỗ lực cao nhất của chính phủ Pháp và sự viện trợ tối đa của Mĩ: “nó cho phép hi vọng đủ mọi điều”.

2, Chủ trương của ta

                Ngay khi biết tin Pháp chọn Điện Biên Phủ để tiến hành trận chiến quyết định, chủ tịch Hồ Chí Minh đã lấy ngay chiếc mũ trên đầu và ném lên bàn. Chỉ thẳng vào chiếc mũ đang lật ngửa-tượng trưng cho Điện Biên Phủ. Người nói: “Quân Pháp sẽ bị chôn sống ở đây”.

                Nắm được ý đồ của địch, ngay từ tháng 9/1953 Bộ chính trị và trung ương Đảng đã họp bàn kế hoạch quân sự đông xuân 1953-1954 tại chiến khu Việt Bắc và ra quyết định: “Sử dụng một bộ phận chủ lực mở những cuộc tấn công vào những nơi địch sơ hở, đồng thời tranh thủ cơ hội tiêu diệt địch trong vận động ở những hướng địch có thể đánh sâu vào vùng tự do của ta; trong lúc đó đẩy mạnh chiến tranh du kích trên khắp các chiến trường sau lưng địch và tích cực tiến hành mọi sự chuẩn bị cần thiết trong nhân dân và bộ đội địa phương, dân quân du kích các vùng tự do để cho chủ lực rảnh tay làm nhiệm vụ”.

                Bộ chính trị đã nhấn mạnh phương châm “tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt” và nhấn mạnh các nguyên tắc chỉ đạo chiến lược và chỉ đạo tác chiến là: “Tiêu diệt sinh lực địch, bồi dưỡng lực lượng ta, đánh ăn chắc, đánh chắc thắng, đánh tiêu diệt, chon nơi địch sơ hở và tương đối yếu mà đánh, giữ vững chủ động, kiên quyết buộc địch phải phân tán lực lượng”.
3, Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

                Điện Biên Phủ là một thung lũng lớn ở phía Tây vùng rừng núi Tây Bắc cách Hà Nội khoảng 300km, cách Lai Châu 80 km về phía Nam. Dưới con mắt của các nhà hoạch định chiến lược quân sự Pháp, Điện Biên Phủ là một vị trí chiến lược đặc biệt trọng yếu án ngữ Tây Bắc Việt Nam, kiểm soát tuyến đường thông sang Thượng Lào. Vì vậy, Pháp quyết định xây dựng Điện Biên Phủ thành tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương với mưu đồ nhử quân chủ lực ta tấn công vào Điện Biên Phủ và “nghiền nát” chúng ta tại đây.

Vào lúc cao điểm nhất lực lượng Pháp ở Điện Biên Phủ đã lên đến 16200 tên cùng nhiều đơn vị pháo binh, xe tăng, máy bay thường trực và nhiều phương tiện, vũ khí hiện đại khác. Ngoài ra, Pháp còn sử dụng hơn 3.000 tấn dây thép gai để tạo thành những "rừng rào cản" bảo vệ các cứ điểm.

Với lực lượng trên, Pháp bố trí thành 49 cứ điểm, những cứ điểm gần nhau lại được tổ chức thành cụm cứ điểm (trung tâm đề kháng). Tập đoàn cứ điểm có 8 trung tâm đề kháng và được chia thành 3 phân khu: Phân khu Bắc, Phân khu Nam và Phân khu trung tâm.

 Phân khu trung tâm là phân khu quan trọng nhất, nằm giữa Mường Thanh, chiếm gần 2/3 lực lượng với 5 trung tâm đề kháng, bao bọc lấy cơ quan chỉ huy của tập đoàn cứ điểm. Phân khu Bắc gồm 2 trung tâm đề kháng, phòng ngự ở hướng Bắc. Phân khu Nam có một trung tâm đề kháng, phòng ngự từ phía Nam. Trong 3 phân khu, phân khu Bắc là phân khu quan trọng được ví như cánh cửa thép để bảo vệ tập đoàn cứ điểm này.

Trên thực tế, Điện Biên Phủ là một tập đoàn cứ điểm cực mạnh, nó giống như một con nhím, khi bị tấn công chúng sẽ xù lông ra, nếu kẻ thù tấn công vào thì có thể chuốc lấy đau đớn, bại vong.

                Với sự bài bình bố trận đó Pháp tin tưởng ở chiến thắng cho mình nếu trận quyết chiến chiến lược xảy ra với Việt Minh. Chúng tự tin và ngông cuồng thái quá đến mức coi Điện Biên Phủ là một pháo đài bất khả xâm phạm, “một Véc Đoong  của Đông Dương”; nhiều tướng lĩnh, chính khách Pháp như: Cogny, Navarre, Dejean, Ely, Blanc… đã đến tận nơi để kiểm tra và đều thống nhất đánh giá tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ là một “ Pháo đài không thế công phá”. Tướng Đờ Cát-xtơ-ri-Tổng chỉ huy quân Pháp tại Điện Biên Phủ nhiều lần huênh hoang tuyên bố: "Mục đích của Điện Biên Phủ là để nghiền nát ý muốn điên rồ của Việt Minh". Thậm chí ngày 3-2-1954 (mồng 2 tết âm lịch), chúng còn rải truyền đơn, thách ta đánh Điện Biên Phủ. Thái độ ngạo mạn đó đã chứng tỏ một điều địch đánh giá quá thấp khả năng và trình độ tác chiến của quân đội và nhân dân ta. Để rồi chính chúng lại phải chuốc lấy thất bại đau đớn.

                Nhìn vào thực tế thì Pháp đã quên mất những chi tiết cực kì quan trọng để rồi tự chúng đã tự biến Điện Biên Phủ thành tử địa, thành mồ chôn chính mình:

                Một là: Vào Điện Biên Phủ chỉ có 1 con đường duy nhất thông sang Lào, Điện Biên Phủ án ngữ trên con đường đó, nếu quân ta bao vây chúng và chặn cả 2 đầu thì chúng như “cá nằm trong rọ” không có đường lui. Trong binh pháp thì đó chính là tử địa.

                Hai là: Điện Biên Phủ nằm dưới một thung lũng, địa thế như một lòng chảo, có lẽ chúng đã quên rằng trong chiến tranh bên nào chiếm được điểm cao, nắm được địa lợi thì bên đó có khả năng chiến thắng cao hơn, vậy mà chúng bỏ nơi cao, xuống chỗ thấp đánh mất địa lợi của mình. "Từ trên máy bay nhìn xuống, người ta tự hỏi : Không hiểu vì sao Navarre, một trong những tướng tài ba nhất của Pháp lại đem quân nhốt mình vào cái "chậu" (tiếng Pháp là Cuvette) bốn bề bịt kín thế này. Đúng, từ máy bay nhìn xuống đồng bằng Mường Thanh với căn cứ Điện Biên Phủ quả là một cái chậu bốn bề núi cao, vào đấy là hết  đường thoát" (Nguyễn Khắc Viện). Kết quả là trong chiến dịch Điện Biên Phủ, các cứ điểm của chúng đã trơ mình ra làm mồi cho pháo của ta từ trên cao bắn xuống và chịu những tổn thất nặng nề.

                Ba là: Điện Biên Phủ có vị trí xa hậu phương địch, gần hậu phương ta, chi viện chỉ dựa vào đường hàng không, nếu ta cắt đứt được đường tiếp ứng, tiếp tế bằng hàng không của chúng thì coi như chúng không đánh cũng tự thua. Trên thực tế, bộ đội cao xạ của ta đã làm được điều này và làm chủ bầu trời Điện Biên, hạ 62 máy bay địch. Hậu quả là Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ lâm vào cảnh thiếu thốn trầm trọng lương thực, thực phẩm, quân trang, vũ khí, sức mạnh bị suy yếu nghiêm trọng để rồi đi tới bại vong.
Nam Hoàng
| Copyright © 2013 Non sông Việt Nam
Mọi trích dẫn từ blog xin vui lòng ghi rõ nguồn " Blog Kênh Việt Nam"