Các quốc gia đẩy mạnh hội nhập, hợp tác với nhau, thế giới trở nên gần hơn về mặt địa lí nhưng điều đó không có nghĩa tình cảm quốc tế cũng tăng lên theo tỉ lệ thuận. Những năm trước đây, vì chống phát xít Đức, thế giới đồng tâm, hiệp lực; vì chống giặc ngoại xâm, giải phóng quốc gia dân tộc, các quốc gia thuộc địa liên kết với nhau cùng vùng dậy, cùng giành chiến thắng. Vì nghĩa cử cộng sản quốc tế, Việt Nam điều quân tinh nhuệ sang tận lãnh thổ Campuchia để giúp nước bạn đấu tranh chống lại nạn diệt chủng Pôn Pốt… Nhưng hiện tại, phát ngôn là đồng minh tin cậy của nhau cỡ như Mỹ, Philippine mà còn không giúp đỡ nhau khi Trung Quốc lấn chiếm, xâm phạm lảnh thổ nước này trên biển; cở 4 tốt, 16 chữ vàng như Việt Nam, Trung Quốc cũng không thiếu những đụng độ trên biển, tranh chấp chủ quyên lãnh thổ. Cỡ như Ucraina và EU mà còn chẳng giải quyết nổi vấn đề Krum khi Nga tiến hành sát nhập vùng đất này vào lãnh thổ nước Nga,…
Ảnh: Bên cạnh sự hợp tác, tự lực vẫn là chìa khóa cho sự phát triển của một quốc gia
Nguồn: Internet
Vậy, thời kì quốc gia “không biên giới lãnh thổ” này, việc bảo vệ chủ quyền, giữ vững độc lập chủ quyền sẽ dựa trên cái gì, nhờ đồng minh, hay tự mình bảo vệ mình???
Câu hỏi này sẽ có nhiều ý kiến khác nhau, nhưng ở vị thế như Việt Nam, việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ ắt phải tự mình bảo vệ mình, nếu không làm được điều đó, nghĩa là tự đánh mất cái quyền căn bản của một Nhà nước đối với vùng lãnh thổ đã phân định. Chúng ta có nên dựa vào nước ngoài, mà cụ thể là Mỹ để bảo vệ chủ quyền quốc gia không??? Nước Mỹ có trao lợi ích cho quốc gia khác một cách vô điều kiện không???. Vụ hạ đặt giàn khoan HP981 của Trung Quốc vào vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam, chúng ta hoàn toàn chủ động giải quyết; thời điểm đó, có nhiều ý kiến về việc “liên kết” với Mỹ để gia tăng sức ép với Trung Quốc, nói cách khác là “ngả” về phía Mỹ, là đồng minh của Mỹ để nâng cao khả năng bảo vệ chủ quyền quốc gia. Nhưng may mắn, giữ vững bản lĩnh, lập trường của mình, tự giải quyết mâu thuẩn bằng biện pháp hòa bình, Trung Quốc cuối cùng cũng đã rút giàn khoan ra khỏi vùng tranh chấp.
Thời điểm hiện tại, khó khăn đang tăng lên gấp bội, việc Trung Quốc ngang nhiên xây dựng trái phép trên hay việc đưa vũ khí ra hai quần đảo tranh chấp với Việt Nam,… dường như đã vượt quá sự kiểm soát của quốc tế, bởi những lí do người Trung Quốc biện minh cho việc làm trái phép đó còn qua được cả mặt Mĩ, một quốc gia hùng mạnh về mọi mặt. Người phát ngôn Bộ Quốc phòng Trung Quốc Dương Vũ Quân ngang nhiên tuyên bố: “Chính Mỹ mới là kẻ cổ vũ việc quân sự hóa tình hình Biển Đông”. Ông còn lên tiếng bao biện: “Việc Trung Quốc xây dựng các công trình quân sự trên các bãi và các đảo ở Biển Đông là thực sự cần thiết”. Vậy là Mỹ không thể nói được gì hơn, bởi việc họ đưa tàu chiến vào tuần tra ở biển Đông đã tạo cái cớ quá tốt, cái mà người Trung Quốc lâu nay vẫn chờ đợi để thực hiện mưu đồ bá chủ trên biển Đông.
Trước đây, việc bảo vệ quốc gia được thực hiện bằng sự hiệp lực, đóng góp công sức, của cải của toàn dân. Thời điểm hiện tại, việc đoàn kết, hiệp lực cũng hoàn toàn hợp lí, tuy nhiên yếu tố quan trọng hiện tại là khoa học kĩ thuật, tự bảo vệ mình ở thời điểm này đòi hỏi các quốc gia phải nâng tầm của mình về mọi mặt và khoa học, kĩ thuật là cái đi đầu. Một Israel phát triển, tránh được các xung đột và sự gia tăng ảnh hưởng của Mĩ ở khu vực Trung Đông là nhờ sự quan hệ khôn khéo trong ngoại giao với các cường quốc lớn; sự nhạy bén trong đầu tư phát triển khoa học kĩ thuật. Giữa Trung Đông nhiều bất ổn, quốc gia này vẫn trổi dậy, vươn mình một cách mạnh mẽ, đầy thuyết phục trước sự ngỡ ngàng của thế giới, đấy rõ ràng là sự tự lực mà người Việt Nam cần phải học hỏi.
Trung Quốc sẽ vẫn thực hiện các hoạt động xâm phạm chủ quyền trái phép trên biển, việc đòi lại chủ quyền của Việt Nam vẫn phải thực hiện. Nhưng hơn hết, Việt Nam phải luôn đứng trên lập trường của một quốc gia thống nhất, tự chủ; người lãnh đạo đất nước phải thực sự tĩnh trong thế giới động mới mới giữ vững thành công chủ quyền, độc lập quốc gia dân tộc.
Niềm Tin



Trong tiến trình phát triển của một quốc gia từ trước đến nay thì vấn đề giáo dục luôn được coi là quốc sách hàng đầu và quan trọng nhất trong hệ thống các chính sách và vấn đề an sinh xã hội. Có thể thấy như thế nên chúng ta dễ hiểu được rằng, thời gian qua ở nước ta khi nhắc đến vấn đề giáo dục luôn nhận được sự quan tâm của cả nước cũng như các bậc phụ huynh hàng ngày luôn tâm huyết với con trẻ của mình.
Song song trong vấn đề giáo dục ở đất nước chúng ta hiện tại là việc hoàn thiện, bổ sung và chỉnh lí SGK theo từng giai đoạn, từng thời kì để có cách nhìn và phản ánh phù hợp với điều kiện cũng như thực tế lịch sử của đất nước ở từng giai đoạn và từng thời kì khác nhau. Với những gì nền giáo dục nước nhà đã và đang thể hiện, với vấn đề này tác giả xin có một vài ý kiến như sau:
Thứ nhất, chúng ta hiểu rằng đất nước và dân tộc đã và đang ngày càng đi lên, cởi bỏ những cái “áo cũ” để thay vào những cái “áo mới” để bộ mặt đất nước được tân tiến và văn minh như hiện nay. Điều đó cũng tất yếu dẫn đến việc ngành giáo dục cũng cần có vai trò của mình trong việc phản ánh tình hình, phản ánh được đúng tinh thần và thực tế của đất nước qua hệ thống giáo trình, sách vở để đến với học sinh. Đó là điều hoàn toàn hợp lí và cần thiết bởi thực tế bộ sách giáo khoa hiện tại đang được sử dụng trong chương trình giảng dạy và học tập của học sinh đã lâu, với số liệu cũ và còn một số vấn đề không còn phù hợp với xu hướng cũng như tình hình hiện tại, đặc biệt là về kinh tế và xã hội.
Thứ hai, việc đề cập những vấn đề trong sách giáo khoa khi được chỉnh lí và hoàn thiện mới theo bản thân tác giả cần cho học sinh và người học về những vấn đề rõ ràng hơn, chân thực hơn.
Chẳng hạn như, trong mọi ngành, mọi lĩnh vực chúng ta đã làm được gì, chưa làm được gì, chúng ta đã sản xuất được gì, chưa sản xuất được cái gì, ngành gì là thế mạnh với tình hình đất nước trong thời kì hội nhập. Từ đó có cách nhìn định hướng cho học sinh về vấn đề nhìn nhận về thực tại và sâu xa hơn là vấn đề định hướng tương lai cho bản thân của chính học sinh. Bởi thực tế, một tình trạng của đất nước ta trong vấn đề việc làm hiện nay là “thợ thiếu, thầy thừa” ai cũng đổ xô đi học một ngành, một lĩnh vực dẫn đến quá tải, dư thừa nguồn lao động, trong khi một số ngành khác lại thiếu hụt nhân công và lao động. Vấn đề này cũng cần phải nói một phần do tinh thần của sách giáo khoa trong hệ thống giáo dục chưa phản ánh hết làm cho học sinh mờ đi cách nhìn nhận thực tế. Một phần nữa là sách giáo khoa hiện nay còn mang nặng tính chung chung hơn là so với gì thực tế đã và đang diễn ra so với thực tại của đời sống kinh tế xã hội đất nước.
Ảnh: Đã đổi mới là phải khai sáng được tầm nhìn và tri thức (Nguồn: Internet)
Thứ ba, về vấn đề xin ý kiến biên soạn, tác giả cho rằng việc Bộ GD-ĐT huy động giáo sư cả nước viết sách giáo khoa là một định hướng đúng và cần thiết, nhưng việc lấy ý kiến từ người học và người dạy mới chính là yếu tố quan trọng nhất.
Thực tế nhìn nhận ra cho chúng ta thấy rằng, người dạy học và người học chính là những người “khai quật” tất cả mọi góc cạnh cũng như nội dung của hệ thống SGK. Và một vấn đề được hàng triệu con mắt và khối óc quan sát chắc chắn sẽ phản ánh tốt hơn hàng chục khối óc và đôi mắt, do đó chỉ có người học và người dạy học mới phát hiện một cách tận tình và rõ ràng nhất những bất cập trong hệ thống SGK đã và đang sử dụng. Vì vậy, việc chỉnh sửa và sửa đổi tất yếu không thể không coi trọng việc lấy ý kiến của người dạy và người học để hệ thống sách mới được chỉn chu và hoàn thiện đáp ứng mọi yêu cầu.
Suy cho cùng, SGK ra đời cũng là mục đích phục vụ người học và họ muốn gì, tìm hiểu thêm gì và có những khúc mắc chỗ nào cần phải hiểu thêm thì công việc đó sẽ dành cho những phiên bản thế hệ mới của SGK chứ phiên bản cũ không thể giải quyết. Đó chính là mục đích cho sự đổi mới !
Thứ tư, Coi trọng yếu tố lịch sử và nhân cách người học trong đợt sửa đổi bộ SGK mới.
Sự phức tạp của tình hình hiện tại, cùng sự thờ ơ với thời cuộc của một bộ phận giới trẻ quốc gia hiện nay đang là vấn đề ảnh hưởng tơi sự an nguy của quốc gia, chủ nghĩa yêu nước – chủ nghĩa dân tộc là truyền thống của dân tộc cần được giữ gìn và phát huy qua từng thế hệ, để lòng yêu nước được bồi dưỡng, để thế hệ trẻ có trách nhiệm hơn với Tổ quốc và dân tộc.
Nhân cách và đạo đức người học cần được coi trọng trong nội dung sách của người học cũng như nhắc nhở người dạy và người học cần phải có nó để đất nước tiến lên một xã hội văn minh. Thực tế, thời gian qua nền đạo đức học đường đang được báo động với nhũng hành vi bạo lực, nạn vô kỉ luật, những hành vi bạo lực xã hội đang tiến triển theo chiều hướng xấu, văn hóa – tình người đang bị bóp chết. Có thể nói đây là những vấn đề không hề nằm ngoài vấn đề giáo dục, bởi ý thức  chính là vấn đề quyết định tới vấn đề này và giáo dục tất yếu phải giải quyết và hạn chế nó. Một hình thức giảng dạy tiên tiến cộng với một nội dung giáo dục theo một hệ thống cấp tiến và thực tế sẽ biến đổi và giải quyết vấn đề này.
Dù bất kì trên phương diện Quốc gia hay con người, nếu con đường phát triển nếu được ví như chiếc xe thì chính giáo dục chính là con đường duy nhất để đưa cái xe ấy không ngừng vận động và đi lên. Chúng ta hy vọng rằng, với đợt hoàn thiện để đổi mới bộ SGK lần này của Bộ GD-ĐT thì một chiều hướng mới, với một tầng tầng lớp lớp con người mới sẽ hoàn thiện mọi mặt để đáp ứng tình hình mới, phù hợp hơn và đất nước ngày càng tốt đẹp hơn.
Hiểu Minh


| Copyright © 2013 Non sông Việt Nam
Mọi trích dẫn từ blog xin vui lòng ghi rõ nguồn " Blog Kênh Việt Nam"