C:\Users\Administrator\Desktop\IMG_1535.JPG

Ảnh: Quân đội Myanmar thiết lập lệnh giới nghiêm trên lãnh thổ đất nước trong thời gian chính biến tại quốc gia này

Thời gian gần đây, dư luận đặc biệt quan tâm đến cuộc đảo chính tại Myanmar khi quân đội tiến hành lật đổ chính quyền của bà Aung San Suu Kyi. Trong đó, quân đội Myanmar đã tiến hành bắt giữ Tổng thống Aung San Suu Kyi và nhiều nhân vật cấp cao của Đảng liên minh quốc gia dân chủ (NLD) cầm quyền với lý do là “gian lận bầu cử”. Cùng với đó, quân đội Myanmar tuyên bố tình trạng khẩn cấp ở nước này 01 năm và quyền lực quản lý đất nước sẽ được trao cho Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang, tướng Min Aung Hlaing. Chính biến xảy ra ở Myanmar là một bài học không chỉ cho Việt Nam mà nhiều nước trên thế giới.

Tại Việt Nam, chúng ta biết rằng, thời gian qua, các thế lực thù địch trong và ngoài nước đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, thậm chí có các hoạt động “can thiệp” nhằm tách lực lượng vũ trang ra khỏng sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, đồng thời xóa bỏ yếu tố chính trị trong bản chất của lực lượng vũ trang của Việt Nam. Điều này hoàn toàn nằm trong âm mưu của các thế lực thù địch nhằm làm mất đi “lá chắn bảo vệ” đất nước, từ đó làm giảm đi sức chiến đấu, bảo vệ của lực lượng vũ trang và sức mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Một khi lực lượng vũ trang được “phi chính trị hóa” sẽ dẫn tới hình thành một chính phủ dân sự, các hội nhóm sẽ hình thành và dẫn tới nguy cơ bất ổn đất nước, thay đổi thể chế chính trị của quốc gia. Bài học từ Myanmar là một minh chứng gần nhất cho việc này.

Chính vì vậy, lực lượng vũ trang của Việt Nam bao gồm quân đội và công an từ khi thành lập đến nay đều được đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện và mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý điều hành của Nhà nước. Điều này thậm chí đã được quy định rõ trong Hiến pháp qua các thời kì và mới nhất là Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013. Theo đó, Hiến pháp xác định: “Lực lượng vũ trang nhân dân tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, Nhân dân, với Đảng và Nhà nước”. Đây chính là một trong những nhân tố quyết định đến việc Việt Nam trong những năm qua là một nước hòa bình, ổn định, qua đó đạt được những thành tích đáng tự hào về việc phát triển kinh tế xã hội.

Sự kiện chính biến ở Myanmar một lần nữa chứng minh quan điểm về lực lượng vũ trang của Đảng ta là hoàn toàn chính xác. Đồng thời, đập tan luận điều đòi “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang mà các thế lực thù địch tuyên truyền, xuyên tạc thời gian qua./.

Mạc Huy



C:\Users\Admin.Admin-PC\Desktop\images1262443_chien_tranh_bien_gioi_phia__jpol.jpg

Hình ảnh bộ đội địa phương tỉnh Hoàng Liên Sơn chiến đấu bảo vệ Tổ quốc trong chiến tranh biên giới phía Bắc

Tròn 42 năm (17/02/1079 – 17/02/2021) kỉ niệm sự kiện mở màn chiến tranh biên giới phía Bắc. Một cuộc chiến diễn ra trong thời gian ngắn, tuy nhiên cách nhìn nhận về cuộc chiến này đến nay vẫn có nhiều luồng quan điểm trái chiều nhau. Đặc biệt, hàng năm, cứ đến sự kiện này là các thế lực phản động đẩy mạnh việc tuyên truyền, nói xấu Đảng và Nhà nước thông qua các chiêu bài như: “Cộng sản Việt Nam hèn nhát trước Trung Cộng”; đồng thời kích động tư tưởng chống Trung Quốc trong các tầng lớp nhân dân”... Chính những luồng thông tin độc hại đó đã dẫn tới việc nhiều người hiểu không đúng, không đầy đủ về một cuộc chiến mà đã là một phần lịch sử của dân tộc.

Trước hết, nhiều người chưa hiểu rõ bản chất thực sự của cuộc chiến này, cũng như chưa thấy hết được tính chính nghĩa của cuộc chiến. Để hiểu được điều này cần thấy rõ bối cảnh tình hình thời điểm xảy ra cuộc chiến. Thực sự mà nói, các nhà lãnh đạo Trung Quốc thời kì đó vẫn mang tư tưởng cường quyền, nước lớn. Đặc biệt trước việc Việt Nam bắt buộc phải bảo vệ Tổ quốc và quân tình nguyện Việt Nam vì nghĩa vụ quốc tế cao cả đã giúp bạn giải phóng dân tộc Campuchia thoát khỏi chế độ diệt chủng. Cùng với đó, trong nước (Trung Quốc), lãnh đạo đang phải tranh chấp với các lực lượng đối lập diễn ra quyết liệt. Không còn con đường nào khác, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam trên toàn tuyến biên giới phía Bắc tháng 2/1979. Qua đó thực hiện “một mũi tên bắn nhiều mục tiêu” trong chiến lược bá quyền nước lớn của họ. Như vậy, có thể khẳng định cuộc chiến tranh Trung Quốc xâm lược tháng 2/1979 nằm trong mục tiêu phục vụ mộng bá quyền nước lớn là phi nghĩa. Cuộc chiến tranh chống quân Trung Quốc xâm lược tháng 2/1979 của nhân dân Việt Nam là chính nghĩa. Bởi, phía Việt Nam là chống lại sự áp đặt, sự lệ thuộc, phụ thuộc vào Trung Quốc, bảo vệ hòa bình, độc lập, tự do, toàn vẹn lãnh thổ, đi lên chủ nghĩa xã hội, phù hợp với xu thế thời đại hiện nay.

Vấn đề thứ hai là có phải Đảng, Nhà nước ta che đậy thông tin về cuộc chiến này như những gì mà các thế lực phản động, thù địch đã xuyên tạc. Câu trả lời là không? Chưa bao giờ Đảng, Nhà nước ta quên và “Che đậy” thông tin như những gì chúng xuyên tạc. Cuộc chiến này đã là một phần lịch sử của dân tộc, thể hiện khát vọng độc lập, tự do, tinh thần cách mạng chân chính. Nó được tuyên truyền, phổ biến rộng rãi. Điều này được thấy rõ trong các hoạt động truyền thông mỗi khi đến ngày kỉ niệm sự kiện này.

Vấn đề thứ ba, có phải vì cuộc chiến mà hiện nay chúng ta “phải chống Trung Quốc”. Câu trả lời là hoàn toàn sai. Dân tộc ta có câu “Đánh kẻ chạy đi chứ không ai đánh kẻ chạy lại”. Đồng thời dân tộc Việt Nam là một dân tộc yêu chuộng Hòa Bình, sẵn sàng là bạn với tất cả các nước. Điều này đã được thể hiện trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc, kể cả với các đế quốc như Mỹ, Pháp... và các triều đại phong kiến Phương Bắc trước đây. Do đó, cuộc chiến đã là một phần của lịch sử, quan hệ Việt Nam – Trung Quốc vẫn đang hết sức tốt đẹp theo hướng “khép lại quá khứ - hướng tới tương lai”. Chính vì vậy, việc kích động, hiểu rằng “do cuộc chiến này mà phải chống Trung Quốc” là hoàn toàn sai.

Tóm lại, cần có cách nhìn toàn diện, đầy đủ, khách quan về cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc. Tránh để các đối tượng xấu lợi dụng để kích động, tiến hành các hoạt động chống phá./.

Mạc Huy


 

"Phải chăng ông ta xác định mình là vua một cõi, mọi luật lệ chỉ dành cho thần dân, nô lệ, còn bản thân vua thì được miễn mọi trách nhiệm và quy định của xã hội? Trong khi ông ta vẫn leo lẻo rằng: “Chức vụ càng cao, thì càng phải gương mẫu”. Phải chăng, chỉ có khi chức vụ đến cao nhất như ông ta thì không cần một sự gương mẫu nào?".

Jb Nguyễn Hữu Vinh đã mở đầu như thế trong bài viết xung quanh việc TBT Nguyễn Phú Trọng tái cử Tổng bí thư Đảng cộng sản VN khoá XIII. 

Khéo khen cho JB Nguyễn Hữu Vinh khi anh ta đã dùng một thuật ngữ được Đảng cộng sản VN dùng rất nhiều trong công cuộc chỉnh đốn đảng những năm gần đây: Nêu gương để nói về người đứng đầu Đảng cộng sản VN khoá XIII – TBT Nguyễn Phú Trọng. Và nói về mặt học thuật thì đấy là cách “dùng gậy ông đập lưng ông” mà chúng ta hay quen sử dụng trong những tình huống nói về việc dùng chính những gì vốn thuộc về họ để tấn công họ.

JB Nguyễn Hữu Vinh và stt trên Fb cá nhân (Nguồn: FB)

Vậy nhưng, ngoài cái đó ra thì bài viết của Jb Vinh không có bất cứ điều gì đặc sắc.

Đúng là việc nêu gương của người đứng đầu hết sức quan trọng, nhất là với các chính đảng chính trị. Đó cũng là cách để các nhà lãnh đạo các chính đảng quy tụ quần hùng, tạo ra sự đoàn kết cao độ, thống nhất trong chính tổ chức của mình. Song thú thực, vận dụng chuyện này vào đây (việc TBT Nguyễn Phú Trọng tái cử) nghe chừng nó thái quá và không có bất cứ hạt nhân nào cho hợp lý.

Như chia sẻ của TBT Nguyễn Phú Trọng sau khi bế mạc Đại hội lần thứ XIII với báo giới: “Tôi cũng không được khoẻ lắm, tuổi đã cao rồi. Tôi đã xin nghỉ rồi nhưng Đại hội bầu vẫn phải làm vì là đảng viên phải chấp hành".

"Tôi cố gắng hết sức, nhưng làm được hay không phải là tập thể, là đoàn kết, thống nhất, trên dưới một lòng, toàn đảng, toàn dân, toàn quân nhất trí đồng lòng. Vai trò của cá nhân quan trọng nhưng chỉ là cá nhân thôi".

Với việc xin nghỉ do quá tuổi và sức khoẻ không đảm bảo đã cho thấy cá nhân TBT Nguyễn Phú Trọng đã làm rất tốt chuyện nêu gương, đó là tấm gương không tham quyền, cố vị, sẵn sàng về hưu, thôi công tác khi hết nhiệm kỳ. Nhưng như TBT Nguyễn Phú Trọng cho biết việc tái cử của cá nhân ông và một số nhà lãnh đạo khác không còn là ý chí mang tính cá nhân mà là sự tín nhiệm, phân công của tổ chức. Và khi đã nằm trong guồng máy của tổ chức thì không có chuyện thích làm hay thích nghỉ,.

Nói ra điều này để thấy rằng, JB Nguyễn Hữu Vinh đã định hình được vấn đề cần nói, chỉ có điều trong khi vấn đề đó là ưu điểm của người ta thì không nói đến; lại cố bới và đưa việc khác để tấn công người ta.

Thứ đến, cần hiểu rằng: “Việc chỉnh sửa điều lệ Đảng được đặt ra khi trong quá trình Đại hội xuất hiện những vấn đề mới hoặc việc chỉnh sửa phù hợp với bước tiến của lịch sử (khi mà những quy định cũ trở nên lạc hậu và không còn phù hợp). Song cần biết rằng, sửa Điều lệ Đảng cần có tính chiến lược, nó sẽ không nên sửa khi vấn đề "ngoại lệ" không quá phổ biến; hoặc việc sửa đổi của kỳ Đại hội này sẽ khiến kỳ Đại hội sau phải sửa lại theo hướng cũ, trước đây” (theo trang Việt nam mới).

Cho nên, việc JB Nguyễn Hữu Vinh công khai tấn công cá nhân TBT Nguyễn Phú Trọng càng cho thấy rằng: Thực chất ông ta chẳng hiểu gì về Đảng cộng sản VN chứ đừng nói đến quy định bầu cử, chọn nhân sự của Đảng. Ông ta càng nói càng sai và càng chứng tỏ sự mặc cảm đến ê chề của chính mình.

Ông ta không chấp nhận việc tái cử của TBT Nguyễn Phú Trọng là sự lựa chọn lịch sử nên vẫn nói đi, nói lại một câu chuyện mà thiết tưởng nó nên được kết thúc sớm. Việc cố nói sẽ chỉ càng làm xấu hình ảnh của chính cá nhân ông ta mà thôi!

PHƯƠNG NAM

| Copyright © 2013 Non sông Việt Nam
Mọi trích dẫn từ blog xin vui lòng ghi rõ nguồn " Blog Kênh Việt Nam"